header image

All posts in September, 2015

Câu chuyện này xảy ra khi đức Phật ở tại Kỳ Viên, liên quan đến thầy Tỳ-kheo Tissa. Ở Xá-vệ, có một chàng trẻ tuổi con nhà quyền quý xuất gia, làm đầy đủ bổn phận, là Thượng tọa Tissa. Lúc thầy còn ở tinh xá trong thành, được cúng dường một tấm vải thô dài tám thước. Sau ngày mãn hạ, thầy về nhà, đưa vải cho chị xem. Chị thầy nghĩ thầm: “Tấm vải này không xứng với em ta”. Cô bèn lấy dao bén, rọc vải thành từng mảnh, bỏ vào cối giả đập cho mềm, bỏ những sợi thô, dệt thành tấm vải mới.

Vài hôm sau, thầy Tissa, tìm ra chỉ và kim, rủ thêm vài thầy và vài chú Sa-di biết may y, đến nhà người chị bảo:

– Ðưa em khúc vải, em muốn may y.

Cô lấy khúc vải mịn dài chín mét, đưa cho thầy. Thầy từ chối:

– Vải kia của em là thứ thô xấu, dài tám mét, khúc này đẹp lại dài chín mét, không phải của em. Hãy đưa khúc vải hôm trước ấy.

– Thưa thầy, vải này của thầy đó.

Cô kể lại những việc làm của mình và bảo thầy hãy lấy vải.

Thầy Tissa đem vải về tinh xá, và tìm người may y. Chị thầy sửa soạn cơm canh mang đến cho thợ may, và khi tấm y hoàn thành, trông nó rất đẹp. Thầy Tissa rất thích chiếc y mới, thầy định ngày mai sẽ đắp nó.

Nhưng hôm ấy, thầy bị bội thực và chết, tái sanh làm một con rận trong chiếc y mới của mình. Chị thầy nghe tin, nhào lăn dưới chân các Tỳ-kheo khóc lóc. Các Tỳ-kheo lo tang ma xong, bàn định:

– Không ai hầu cận Tissa khi thầy đau, chiếc y này thuộc Tăng chúng, chúng ta hãy chia phần.

Con rận la hoảng: Các thầy tước đoạt tài sản của tôi.

Và nó vừa kêu la vừa bò quanh chiếc y.

Ðức Thế Tôn ngồi trong hương thất, biết việc xảy ra, bèn gọi A-nan:

– Này A-nan, hãy bảo chúng Tăng dời việc chia y bảy ngày.

Tôn giả làm theo lời dạy. Cuối ngày thứ bảy, con rận chết và tái sanh lên cõi trời Ðâu-suất. Ngày thứ tám, đức Phật cho phép chúng Tăng chia y.

Sau khi chia xong, chư Tăng bàn tán:

– Tại sao đức Thế Tôn ra lệnh để chiếc y của Tissa lại bảy hôm, ngày thứ tám mới cho phân chia.

Ðức Phật đến gần các thầy hỏi: Các ông tụ họp ở đây bàn tán việc gì?

Và khi các thầy kể lại. Ngài nói:

 Tissa đã tái sanh làm con rận trong y mới của mình. Khi các ông định phân chia y, con rận đã nổi giận. Nó sẽ cự lại các ông, và sẽ đọa địa ngục. Vì lẽ đó Ta bảo để y lại. Hiện nay thì Tissa đã sanh lên cõi trời Ðâu-suất, Ta mới cho phép các ông lấy y đem chia.

Các Tỳ-kheo bạch Phật: Bạch Thế Tôn, tham ái thật là một nỗi khổ lớn.

Phật xác nhận:

– Tham ái thật là vấn đề lo lắng lớn của chúng sanh trên quả đất, như gỉ sét phát sanh từ sắt, trở lại ăn mòn sắt, tham ái phát sanh từ chúng sanh và đưa chúng sanh xuống địa ngục.

Phật nói kệ:

  1. “Như sét từ sắt sinh,

Sắt sanh lại ăn sắt,

Cũng vậy, quá lợi dưỡng

Tự nghiệp dẫn cõi ác.”

 

BÀI HỌC

Tôn giả Tissa vì lưu luyến chiếc y đẹp hơn, dài hơn mà tái sanh làm con rận nằm trong y ấy.

Vấn đề chia tài sản khi một thầy tỳ kheo từ trần, để 7 ngày rồi mới chia.

Bài học tâm lý con rận: kêu la, các thầy cướp đoạt tài sản của tôi. Ai nghe được tiếng kêu ấy? Chúng ta có cảm được nỗi khổ của loài vật khi nó bị đánh cắp tài sản không?

Câu nói của Phật: “tham ái là một nỗi khổ lớn”: ở đâu là tham của cải vật chất, cụ thể là chiếc y rất đẹp, tài sản quan trọng và thân thiết của một tỳ kheo. Vì tham, thích và tiếc chiếc y ấy mà thầy Tissa tái sinh làm con rận, nên Phật nói đó là khổ lớn.

Hình ảnh rỉ sắt phát sinh và ăn mòn sắt được lấy để hình dung cụ thể tham ái phát sinh từ chúng ta và trở lại cột buộc, quấn thắt và hảm hại, dẫn dắt chúng ta chịu nhiều đau khổ.

Quán chiếu

Ngày nay so với chiếc y, chúng ta còn tham luyến những thứ to hơn hay nhỏ hơn nữa? Con cháu, nhà, xe, tài sản, đất đai? Chúng ta hãy kỷ lưỡng trả lời câu hỏi: đột nhiên ta chết, ta lưu luyến cái gì?

Dường như Phật nói ngược với chúng ta. Tham làm sao mà khổ được, là vui chơ. Với ta tham là vui nên ta nhiều ràng buộc, nhiều vướng mắc, nhiều lo toan trong cuộc sống. Bởi Phật biết rõ tham là khổ nên Phật tự do, an vui bình thản trong cuộc đời.

Có phải ta sống trong đất nước giàu có, sung túc thì lòng tham bớt đi không?

Chỉ khi nào có tuệ giác thực sự ta mới thấy được tham ái là vấn đề lo lắng lớn, là khổ lớn.

Kết luận

Tiêu đề của bài học thứ 15 này là con rận tiếc của. Không những con rận tiếc của mà con người cũng tiếc của, thậm chí còn tiếc nhiều hơn, lâu hơn.

Chúng ta hãy nhìn lại lòng lưu luyến tham ái, lòng tiếc của để chuyển hóa, thay đổi hiện tại và tương lai.

Lòng tham là nỗi khổ lớn, là sự lo lắng lớn đối với người có tuệ giác.

Và sự tham tài sản sẽ dẫn dắt, cột thắt chúng ta với tài sản ấy trong xu hướng tiêu cực, đau khổ, ràng buộc, như hình ảnh tôn giả Tissa tái sanh làm con rận.

Mong chúng ta lấy hình ảnh tôn giả Tissa làm hình ảnh cho bài học đắt giá: Lòng tham là nỗi lớn để bớt tham. Mong chúng ta ý thức rằng của cải vật chất mất không tiếc, hư là vất, có thì dùng, không thì mua.

Câu chuyện này xảy ra khi Thế Tôn ở tại Trúc Lâm, liên quan đến Lục quần Tỳ-kheo.

Ngày nọ, nhóm Lục quần Tỳ-kheo mang guốc gỗ, hai tay cầm gậy khua lóc cóc, đi lên đi xuống rầm rầm trên một phiến đá. Phật nghe tiếng lốp bốp, mới hỏi Ngài A-nan:

– Này A-nan! Tiếng gì thế? Tôn giả thưa:

– Bạch Thế Tôn, Lục quần Tỳ-kheo mang guốc gỗ, đi tới đi lui nên gây ra tiếng ấy. Nghe thế, Phật dạy: Một Tỳ-kheo phải kiểm soát tư tưởng, lời nói, và hành động của mình. Ngài nói kệ:

  1. “Bậc trí bảo vệ thân,

Bảo vệ luôn lời nói

Bảo vệ cả tâm tư,

Ba nghiệp khéo bảo vệ.”

 

Lục Quần Tỳ kheo, một nhóm có sáu thầy tỳ kheo thời Phật còn tại thế, cấu kết thành bè đảng, không giử luật nghi, thường làm những chuyện xấu ác. Phật căn cứ vào những hành vi của sáu vị Tỳ kheo nầy mà chế giới. Tên của sáu vị nầy các luật đều nói khác nhau. Theo Luật Tứ Phần 22, thì 6 vị là: 1. Nanda (nan đà), 2. Upananda (Bạt nan đà), 3. Udayin (Ca lưu đà di), 4. Chanda (Xa nặc), 5. Asvaka (A thuyết ca, A thấp bà, Mã túc hay Mã sư), 6. Punarvasu (Phất na bạt, gọi là Mãn túc). Theo Luật Ma Ha Tăng Kỳ 7, 15 thì nhóm Lục Quần Tỳ Kheo là vây cánh bè đảng của Đề Bà Đạt Đa.

Hành động của sáu vị này: mang guốc gỗ, hai tay cầm gậy khua lóc cóc, đi lên đi xuống rầm rầm trên một phiến đá. Thiếu kiểm soát thân, thiếu kiểm soát hành động.

Đức Phật yêu cầu một vị tỳ kheo phải kiểm soát hành động, lời nói và tư tưởng.

Bảo vệ thân: kiểm soát thân để thân đừng tạo ra những hành động gây tổn thương, làm phiền người khác, gây nguy hiểm cho mình, cho người khác.

Bảo vệ lời nói: kiểm soát cái miệng để đừng thốt lời xấu ác, hung dữ, cộc cằn, cay độc, mỉa mai, thâm độc, khóe cạnh.

Bảo vệ tâm tư: tự vấn lương tâm để đừng suy nghĩ, móng tâm động niệm những tư tưởng độc ác, bi quan, trả thù, hờn tức, tự ti mặc cảm, độc đoán, cố chấp và ích kỷ.

Người trí là người khéo bảo vệ ba nghiệp: khóe léo, không cứng nhắc, tùy cảnh dụng tâm, tùy nhân dụng ngữ. Ba nghiệp thì ai cũng có nhưng kiểm soát được, thậm chí khéo kiểm soát thì đó mới là người trí thức, người có tuệ giác, người tu tập.

Quán chiếu:

Mình từng là con cháu của lục quần tỳ kheo không? Làm phiền người khác trong nhà, ở công sở, trên đường phố, dưới subway, trong chùa, ngoài chợ?

Mình kiểm soát được bao nhiêu hành động/lời nói/tư tưởng trong một ngày? Nếu một khi mất kiểm soát thì chuyện gì xảy ra?

Đâu là lý do mình thiếu kiểm soát ba nghiệp? không tuân theo quy định khi sống chung, làm việc chung, quên, mất chánh niệm, vui quá, buồn quá, bực quá?

Kiểm soát ba nghiệp thì được lợi ích gì? Người khác kính trọng, công việc thành tựu, nhiều niềm vui, thêm bạn lành, bớt chướng ngại, ít bị phá hoại, tăng phước, thêm may mắn.

Định nghĩa người trí trong Phật giáo. Người trí là người kiểm soát tốt thân, khẩu và ý chứ không phải người học rộng tài cao, mưu sâu chước thẳm, giàu sang sung túc. Với định nghĩa ấy, mình thuộc người trí hay người chưa trí?

Vì sao phải bảo vệ ba nghiệp? vì ba nghiệp thường bị tám ngọn cuồng phong thổi bay bất cứ lúc nào. Đó là khen chê, được mất, thành bại và khổ vui. Nếu không bảo vệ thì tám gió này sẽ thổi ta bay về nơi tăm tối, khổ đau.

Kiểm soát, bảo vệ lúc nào? Và ở đâu?

Kết luận

Tu thân là kiểm soát thân, là làm những việc lợi mình ích người.

Tu miệng là kiểm soát miệng, luôn nói những lời hòa nhã, khích lệ, cảm thông, an ủi.

Tu ý là kiểm soát ý nghĩ, chỉ nuôi dưỡng những ý nghĩ tốt đẹp, từ bi, trí tuệ, nhẫn nại.

Ai bảo vệ ba nghiệp thì đời này vui, đời sau vui, kiếp này an lành lành, kiếp sau cũng anh lành. Đó là người trí.

Ai khéo bảo vệ ba nghiệp thì nhanh chóng thoát khỏi luân hồi, đến đi tự tại, không vướng không bận. Đó là người đại trí.

Cầu mong chúng ta nuôi dưỡng ý thức bảo vệ, kiểm soát thân khẩu ý bất cứ ở đâu, bất cứ lúc nào để hiện tại an vui, tương lai cũng an vui.

Tại Ba-la-nại, có một thanh niên tên Nandiya, con của một gia đình Phật tử thuần thành. Nandiya có nhiều đức tính tốt nên song thân chàng để chàng làm thị giả trung tín của chư Tăng. Ðến tuổi trưởng thành, song thân chàng muốn chàng kết hôn với Revatì, bà con cô cậu ở nhà đối diện. Nhưng Revatì không tin Phật nên chẳng biết cúng dường, vì thế Nandiya không muốn kết hôn.

Mẹ Nandiya bảo Revatì: Này con, hãy quét dọn nhà, lau chùi sạch sẽ chỗ các Sa-môn sẽ ngồi, chuẩn bị chỗ ngồi, để đồ gác chân vào đúng chỗ cho các Ngài. Khi các Ngài đến, đỡ lấy bát, mời ngồi, dâng nước lọc sạch. Khi các Ngài thọ trai xong, hãy rửa bát. Nếu làm được như vậy con sẽ chiếm được tình cảm của nó.

Revatì làm y lời, và mẹ của Nandiya bảo chàng: Bây giờ Revatì đã thuần hậu.

Nandiya đồng ý, họ làm lễ thành hôn. Nandiya bảo vợ: Nếu em chăm sóc các vị Tỳ-kheo chu đáo, và chăm sóc cha mẹ cũng thế, em có đặc quyền ở trong nhà này, em nên lưu ý. Thưa vâng.

Revatì hứa làm theo lời chồng. Trong vài hôm, nàng học cách đối xử như một phật tử thuần thành. Nàng luôn vâng lời chồng, và sau đó sanh hai con trai. Khi cha mẹ chồng mất nàng trở thành nữ chủ và Nandiya được hưởng gia sản trở nên giàu có. Chàng cúng dường Tăng chúng thường xuyên, và cho để vật thực ở cửa, đều đặn cung cấp cho người nghèo và khách lữ hành. Ít lâu sau, nghe Phật thuyết pháp, chàng bèn khởi công cất một tinh xá tứ giác có bốn phòng, tại đại tinh xá ở Lộc Uyển. Sau khi sắm đủ giường ghế, chàng dâng cúng cho chư Tăng, thiết lễ ngọ trai và xối nước cúng dâng vào tay mặt Thế Tôn. Khi dòng nước vừa xối vào tay đức Phật, trên tầng trời Ba mươi ba mọc lên một tòa lâu đài lộng lẫy rộng mười hai dặm, cao một trăm dặm, làm bằng thất bảo với vô số thiên nữ trong ấy.

Khi Tôn giả Ðại Mục-liên du hành lên cõi trời, Ngài dừng lại trước cung điện này và hỏi: Ai là chủ nhân đầy phước đức của cung điện với vô số thiên nữ này?

Chư thiên thuật lại công đức chủ nhân: Thưa Tôn giả, ngài Nandiya, con trai của một gia chủ đã xây cất tinh xá cúng dường đức Phật, do công đức ấy, cung điện này hiện ra.

Các thiên nữ bạch với Tôn giả: Thưa Tôn giả, chúng tôi là nô lệ của Nandiya. Mặc dù được sinh ở đây, chúng tôi rất buồn vì không gặp chủ nhân. Xin Ngài nói với Nandiya lên đây, cởi bỏ thân người làm thân trời, giống như đập vỡ bình gốm để lấy bình vàng.

Tôn giả trở về bạch Phật: Bạch Thế Tôn, có đúng là người nào hiện tại tạo nhiều phước lành ở cõi người sẽ gặt nhiều vinh dự ở cõi trời.

– Này Mục-kiền-liên, chính mắt ông thấy những thành quả trên cõi trời Ba mươi ba mà Nandiya đạt được, sao ông lại hỏi Ta câu ấy?

– Như vậy là đúng sự thật, bạch Thế Tôn.

– Này Mục-kiền-liên, sao ông nói vậy? Nếu có người con hay anh em đi vắng lâu nay trở về, những người đứng ở cổng làng trông thấy vội vã về báo tin cho thân quyến. Họ sẽ vui mừng hân hoan, mau mau đi đón nói: “Con thân yêu, thế là con đã về”. Cũng thế, khi thiện nam hay thiện nữ đã tạo nhiều công đức ở đây, rời bỏ cõi đời này sang cõi khác, chư thiên mang nhiều phẩm vật tranh nhau đi đón và nói: “Hãy để tôi đến trước! Tôi đến trước”. Và Phật nói kệ:

 

  1. “Khách lâu ngày ly hương,

An toàn từ xa về,

Bà con cùng thân hữu,

Hân hoan đón chào mừng.”

  1. “Cũng vậy các phước nghiệp,

Đón chào người làm lành,

Đời này đến đời khác.

Như thân nhân, đón chào.”

 

BÀI HỌC

  1. Nhân vật chính, Nandiya, là người tốt, cuộc sống làm nhiều điều phước thiện, hiếu thuận cha mẹ, có nhiều đức tính tốt, thân cận chư tăng từ nhỏ, cúng dường tam bảo, giúp đở người nghèo, thay đổi tâm tánh người vợ. Nói chung, Nandiya đã tạo nhiều phước nghiệp. Đó là tấm gương mà chúng ta và con cháu của chúng ta cần soi chiếu.
  2. Hình ảnh cung điện hiện ra khi chàng rửa tay đức Phật xong: khoảng khắc phước nghiệp chín muồi. Đó cũng tương tự như hình ảnh hoa sen ở Cực Lạc tươi tốt khi người niệm Phật ngày càng chuyên cần.
  3. Câu hỏi của tôn giả Mục Kiền Liên: có đúng là người nào hiện tại tạo nhiều phước lành ở cõi người sẽ gặt nhiều vinh dự ở cõi trời? Tôn giả hỏi để nhắc nhở chúng ta phải tin tưởng sâu sắc hơn, và tạo nhiều phước lành hơn nữa.
  4. Lời dạy của đức Phật: khi thiện nam hay thiện nữ đã tạo nhiều công đức ở đây, rời bỏ cõi đời này sang cõi khác, chư thiên mang nhiều phẩm vật tranh nhau đi đón. Không còn nghi ngờ gì nữa, làm điều phước thiện ngay trong đời này là đầu tư sáng suốt cho những đời tiếp theo.
  5. Người thân phần lớn ai cũng hân hoan đón chào mừng người đi xa an toàn trở về, tuy vẫn có một vài người dửng dưng. Nhưng kết quả tốt lành thì luôn luôn đón chờ những người làm lành.
  6. Người thân chỉ đón chào đời này nhưng việc lành đón chào ta nhiều đời. Vì vậy nỗ lực tự bản thân mình làm lành và khuyến khích người thân làm lành.

Tôi nghe như vầy: Một thời, đức Phật ở tại nước Xá-vệ, tinh xá Kỳ Thọ Cấp Cô Ðộc Viên. Bấy giờ trong nước của vua Ba-tư-nặc (Pasennadi) có một tên sát nhân đeo chuỗi tay người – Vô Não. Hắn ta rất hung bạo đẫm máu, chỉ giết chóc phá hoại, không thương xót ai cả. Hắn tàn phá làng nào làng ấy không sống sót, đi qua đô thị nào đô thị ấy hoang mạc, đã giết khu vực nào khu vực ấy không tồn tại. Hắn giết hết người này sang người khác, làm một xâu chuỗi bằng ngón tay các nạn nhân.

Vào một buổi sáng, đức Thế Tôn đắp y mang bát vào thành Xá-vệ khất thực. Sau khi khất thực Ngài trở về dùng buổi sáng, dọn dẹp phòng xá, rồi mang y bát vào khởi sự đi về con đường tướng cướp Chỉ Man đang ẩn núp. Các kẻ chăn bò, chăn trâu, nông dân chạy đến, thấy Thế Tôn đi về hướng ấy đã kêu lên:

– Này Sa-môn! Ðừng đi hướng đó. Về phía đó có tên sát nhân Ương-quật-ma-la đang ẩn núp. Hắn ta tàn bạo, tay đẫm máu, giết chóc tàn phá không nương tay. Hắn đến đâu là ở đó không còn sự sống. Hắn giết người, làm thành một xâu chuỗi bằng ngón tay nạn nhân đeo trên cổ. Sa-môn ơi! Thỉnh thoảng có từng nhóm mười người, hai mươi, ba mươi, bốn mươi người đi chung với nhau trên đường này, và tất cả đều chết bởi tay Ương-quật-ma-la.

Mặc cho họ lo lắng, đức Thế Tôn tiếp tục đi trong im lặng. Lần thứ hai, lần thứ ba khẩn khoản yêu cầu Ngài đừng đi, nhưng đức Thế Tôn vẫn im lặng đi tiếp.

Ương-quật-ma-la nhìn thấy Thế Tôn đi từ xa. Hắn nghĩ thầm: “Thật lạ lùng! Thật kỳ đặc! Ðã từ lâu người đi đường thường tụ tập thành từng nhóm mười người hoặc hai mươi người, ba mươi người, bốn mươi người đi chung với nhau trên con đường này. Vậy mà giờ đây chỉ có một Sa-môn đi một mình, không bạn đồng hành, như thể ông ta đang thắng trận. Ðược thôi, ta giết Sa-môn này”.

Ương-quật-ma-la xách gươm, nai nịt cung tên, chạy theo sau Thế Tôn. Do thần lực của Phật, nên mặc dù hắn chạy hết tốc lực, Thế Tôn đi bình thường, hắn vẫn không sao bắt kịp đức Phật. Hắn suy nghĩ: “Thật phi thường! Thật lạ lùng! Ta đã từng nắm đứng cả voi, ngựa, xe cộ, nai rừng khi chúng đang chạy. Vậy mà với Sa-môn đang đi thong thả kia, ta chạy hết sức mình vẫn không bắt kịp”. Hắn dừng lại kêu lớn:

– Sa-môn! Dừng lại! Hãy dừng lại, Sa-môn!

– Ta đã dừng. Ương-quật, ngươi cũng nên dừng lại.

Ương-quật nghĩ thầm: “Thái tử dòng họ Thích nói thật, phát ngôn thành thật, nhưng Sa-môn này nói đã dừng trong khi đang đi. Ta phải hỏi ông mới được”.

Ương-quật nói kệ: Sa-môn!
Mặc dù đang đi, ông nói: “Ta đã dừng”.
Còn tôi đang đứng, ông lại nói: “Ngươi chưa dừng”.
Giờ đây, tôi xin hỏi câu này nhé!
Vì sao ông đã đứng mà tôi đang đi?

Thế Tôn trả lời:

– Này Ương-quật! Ta đứng lại từ lâu. Vì Ta thường tự ái với mọi người. Còn người không chút xót thương ai.  Và vì thế đã đứng còng ngươi chưa đứng, Ương-quật!

– Từ lâu tôi tôn kính Ngài, bậc trí tuệ phi thường, đại ẩn sĩ rừng sâu. Giờ đây được nghe lời chỉ dạy, tôi sẽ từ bỏ mọi hành động ác xấu.

Nói xong, tên sát nhân ném khí giới xuống hố, phủ phục dưới chân Thế Tôn xin được làm đệ tử Ngài.

Ðức Phật từ bi, đấng trí tuệ đệ nhất, bậc thầy của trời người, nói với tên sát nhân: Thiện lai, Tỳ-kheo! Và chỉ như thế, đã biến y thành một Sa-môn.

Sau đó, Thế Tôn đi về thành Xá-vệ, có tôn giả Ương-quật làm thị giả, Ngài đi vào tinh xá Kỳ Thọ Cấp Cô Ðộc Viên. Khi ấy trước hoàng cung của vua Ba-tư-nặc (Pasenadi), dân chúng tụ tập đông đảo và hô hoán:

– Muôn tâu Hoàng thượng! Có một tên sát nhân trong lãnh thổ của đại vương tên Ương-quật-ma-la. Hắn khát máu, tàn bạo, giết người không gớm tay. Hắn đi qua làng mạc, đô thị, phố xá nào, nơi ấy không ai sống sót. Hắn giết người, lấy ngón tay kết thành chuỗi đeo cổ. Xin đại vương trừng trị hắn.

Sáng sớm, vua Ba-tư-nặc rời hoàng cung với năm trăm xa mã, đi về phía tinh xá. Nhà vua đi xe trên khoảng đường có thể đi xe, xuống xa đi bộ đến chỗ Thế Tôn. Ðến nơi nhà vua cúi chào Phật và cung kính ngồi một bên. Thế Tôn hỏi:

– Ðại vương có điều gì phiền nhiễu? Vua Tần-bà-sa-la của nước ma-kiệt khiêu chiến chăng? Hay các hoàng tử Licchavi của Tỳ-xá-ly gây hấn? Hay vài kẻ cựu thù khác?

– Bạch đức Thế Tôn! Không, vua Tần-bà-sa-la chẳng khiêu khích con. Nhóm Licchavi cũng không. Chẳng có kẻ thù nào khác. Bạch Thế Tôn, có một tên sát nhân tên Ương-quật-ma-la trong nước con. Hắn tàn bạo, khát máu, tàn phá mọi đô thị, làng mạc, hắn đeo xâu chuỗi tay người. Và con không thể nào trừng trị hắn.

– Này đại vương! Giả sử đại vương thấy Ương-quật với râu tóc cạo sạch, khoác y vàng từ bỏ đời sống gia đình sống đời không gia đình, không sát sanh, không trộm cắp, không nói dối, chỉ ăn ngày một bữa, sống đời Phạm hạnh, đạo đức chân thật. Khi ấy nhà vua sẽ đối xử với y như thế nào?

– Bạch Thế Tôn! Con sẽ cúi chào người ấy, con sẽ đứng dậy và mời ngồi, con sẽ xin được cúng dường y phục, thức ăn, phòng xá, thuốc men cho vị ấy. Con sẽ bảo vệ, ủng hộ vị ấy tu hành với chánh pháp. Nhưng, bạch Thế Tôn! Làm sao một người cực ác như thế lại có thể hoàn toàn vâng theo những tín hiệu luân lý?

Khi ấy, Thượng tọa Ương-quật-ma-la ngồi cách Phật không xa. Và đức Phật đưa tay chỉ cho nhà vua.

– Ðại vương, Ương-quật-ma-la đây!

Vua Ba-tư-nặc run lên vì sợ, chân tay lập cập, tóc dựng đứng. Ðức Thế Tôn thấy thế khuyên nhà vua:

– Ðừng sợ hãi, đại vương! Ðừng sợ hãi! Ðại vương không có gì phải sợ cả.

Ngay lúc đó, nhà vua lấy lại bình tĩnh, cơn xúc động lắng xuống, nhà vua đến chỗ Thượng tọa Ương-quật-ma-la, hỏi thăm:

– Bạch Ðại đức, có phải Ngài là Ương-quật-ma-la?- Thưa vâng!

-Xin được phép biết tôn danh của thân phụ và thân mẫu Ngài?

– Ðại vương! Thân phụ tôi họ Gagga, thân mẫu tôi họ Mantànì.

– Bạch đại đức! Vinh hạnh thay cho Thượng tọa dòng Gagga cao quý, con trai của Mantànì.

Trẫm sẽ tận tình cúng dường y phục, thức ăn, phòng xá, thuốc men cho Ngài.

Nhưng khi ấy, Thượng tọa Ương-quật-ma-la đã tuân theo các điều kiện khổ hạnh như: ở trong rừng, đi khất thực, mặc y phấn tảo, chỉ giữ ba y nên trả lời:

– Ðại vương! Ba y tôi đã đủ.

Vua Ba-tư-nặc đến chỗ Phật, kính cẩn ngồi một bên, và thưa:

– Bạch Thế Tôn! Thật kỳ diệu. Thế Tôn điều phục người không thể điều phục, trấn an kẻ dấy loạn, chế ngự kẻ không thể chế ngự. Thế Tôn điều phục không cần đến roi gậy, gươm đao với những kẻ mà nếu chúng con có dùng đến roi gậy, gươm đao cũng không thể chế ngự nổi. Bạch Thế Tôn! Bây giờ con phải về, có những việc phải làm, phải lưu tâm. Ðại vương cứ tùy nghi.

Vua Ba-tư-nặc đứng lên lễ Phật, đi nhiễu quanh và trở về.

Một buổi sáng, Thượng tọa Ương-quật-ma-la đắp y mang bát vào thành Xá-vệ khất thực. Và khi Thượng tọa đi theo thường lệ từ nhà này sang nhà khác, Ngài thấy một bà mẹ đang đau đớn vì sắp sinh. Thấy thế, Ngài nghĩ thầm: “Ôi! Chúng sanh đau khổ xiết bao”.

Khất thực xong, Thượng tọa trở về, ăn sáng xong, đi đến chỗ đức Phật đảnh lễ và ngồi một bên thưa:

– Bạch Thế Tôn! Sáng nay, con đi khất thực trong thành Xá-vệ như thường lệ, và trông thấy một thiếu phụ đau đớn vì sanh khó. Khi trông thấy cảnh ấy, con nghĩ thầm: “Chao ôi! Chúng sanh đau khổ xiết bao!”.

– Ðược rồi, này Ương-quật-ma-la, hãy trở vào thành Xá-vệ, đến chỗ thiếu phụ ấy và nói rằng: “Này cô! Từ khi tôi sanh ra, tôi không có ác tâm giết hại đối với bất cứ chúng sanh nào. Nếu điều này đúng sự thật, xin an lành đến với cô và đứa bé sắp sanh”.

– Nhưng, bạch Thế Tôn! Ðó là điều cố ý nói dối, vì con đã cố ý giết hại bao nhiêu chúng sanh.

– Thôi, Ương-quật-ma-la hãy đến nói thế này: “Này cô, từ khi tôi sanh vào dòng Thánh, tôi không cố ý giết hại bất cứ người nào. Nếu điều này đúng sự thật xin an lành đến với cô, an lành cho đứa bé sắp sinh”. – Thưa vâng.

Thượng tọa Ương-quật-ma-la vâng lời Thế Tôn, trở vào thành Xá-vệ, đến nói với thiếu phụ….lập tức nàng được an ổn, đứa trẻ chào đời an ổn.

Thượng tọa Ương-quật-ma-la sống độc cư, rút lui khỏi thế gian, chuyên tâm quyết ý và chẳng bao lâu ngay đời này, tôn giả an trú trong trí tuệ, đạt được Minh sát tuệ, và đạt được mục đích tối cao của dòng Thánh, đó cũng là mục đích của những người trẻ tuổi từ bỏ cuộc đời, từ bỏ gia đình sống không gia đình. Tôn giả tuyên bố: “Ðời này là đời cuối, phạm hạnh đã lập, việc làm đã xong, ta không còn trở lại đời này”. Thượng tọa đã chứng A-la-hán.

Vào một buổi sáng, Tôn giả Ương-quật-ma-la đắp y mang bát vào thành Xá-vệ khất thực. Thấy Tôn giả, người thì ném đất, kẻ ném gậy kẻ ném đá, đánh đập Tôn giả. Tôn giả trở về, đầu vỡ, máu chảy, bát bể, y áo rách tả tơi, đi đến chỗ Thế Tôn. Thế Tôn trông thấy từ xa, an ủi:

– Hãy nhẫn Bà-la-môn, hãy nhẫn Bà-la-môn, ngươi đang chịu đau khổ hiện tại vì quả báo của những hành động ác, thay vì chịu đau đớn ở địa ngục trong nhiều năm, nhiều trăm năm, nhiều ngàn năm.

Giờ đây, Tôn giả Ương-quật-ma-la sống một mình tu ẩn, hưởng niềm vui an lạc của giải thoát. Tôn giả nói kệ:

  1. “Ai dùng các hạnh lành,

Làm xóa mờ nghiệp ác,

Chói sáng rực đời này,

Như trăng thoát mây che.”

BÀI HỌC

Bài kệ đã tóm tắt một quảng đời của tôn giả Ương quật ma la. Quảng đời ấy đi từ hai thái cực: cực ác – sát nhân, đến cực thiện – bậc A la hán

Hai chữ dừng lại đã đánh thức một tên sát nhân, quay đầu hướng thiện.

Bài học tâm lý của tôn giả Ương quật ma la:

  • Vẫn còn tâm lý ái ngại vì những sai lầm mình đã làm ra nên chưa mạnh dạn giúp người khác.
  • Dũng cảm và quyết tâm thay đổi số phận: “sống độc cư, rút lui khỏi thế gian, chuyên tâm quyết ý”, ẩn tu, hưởng niềm an lạc giải thoát.
  • Nhẫn nại chịu đựng những sự ném đất, kẻ ném gậy kẻ ném đá, đánh đập, đầu vỡ, máu chảy, bát bể, y áo rách tả tơi.

Bài học tâm lý của vua Ba tư nặc

  • Sợ hãi vẫn ngay khi lần đầu gặp tôn giả.
  • Sẳn sàng mở rộng bàn tay đón chào những người biết sửa đổi: Con sẽ cúi chào người ấy, con sẽ đứng dậy và mời ngồi, con sẽ xin được cúng dường y phục, thức ăn, phòng xá, thuốc men cho vị ấy. Con sẽ bảo vệ, ủng hộ vị ấy tu hành với chánh pháp.
  • Câu hỏi mà ngày nay chúng ta vẫn cần tiếp tục hỏi: Làm sao một người cực ác như thế lại có thể hoàn toàn vâng theo những tín hiệu luân lý?
  • Lời khen đức Phật của vua: Thế Tôn điều phục người không thể điều phục, trấn an kẻ dấy loạn, chế ngự kẻ không thể chế ngự. Thế Tôn điều phục không cần đến roi gậy, gươm đao với những kẻ mà nếu chúng con có dùng đến roi gậy, gươm đao cũng không thể chế ngự nổi. Với đức độ, tình thương và tuệ giác ta vẫn có thể thay đổi người khác mà không cần phải dùng đến roi gậy, quát mắng, gươm đao, hình phạt.

Các hạnh lành: tuân theo các điều kiện khổ hạnh như: ở trong rừng, đi khất thực, mặc y phấn tảo, chỉ giữ ba y, “sống độc cư, rút lui khỏi thế gian, chuyên tâm quyết ý”, ẩn tu, hưởng niềm an lạc giải thoát. Những việc thiện mà chúng ta đang làm.

Hình ảnh ánh trăng sáng thoát khỏi đám mây đen: hình ảnh những người làm thiện tỏa sáng trong cuộc đời; cũng là hình ảnh tượng trưng cho ánh sáng tuệ sáng bừng dậy sau một thời gian bị những đám mây si mê dục vọng che khuất.

Đã tạo lầm lỗi rồi thì cách tốt nhất để chuộc lại lỗi lầm là nỗ lực làm lành. Làm lành không những xóa mờ ác nghiệp mà còn giúp tỏa sáng trong cuộc đời.