header image

All posts in July, 2015

 

Do chuyện ngạ quỷ có hình trăn, Thế Tôn dạy câu trên ở tinh xá Trúc Lâm.

Từ đỉnh Linh Thứu, Trưởng lão Ðại Mục-kiền-liên và Lakkhana xuống thành Vương Xá khất thực. Dọc đường, Mục-kiền-liên dùng thiên nhãn thấy một ngạ quỷ trong tướng hình trăn dài hai mươi lăm dặm, bị lửa thiêu đốt khắp mình mẩy. Ngài mỉm cười, vị kia hỏi lý do, Ngài bảo đợi đến gặp Phật sẽ nói. Và trước mặt Phật, Ngài giải thích vì từ trước đến giờ chưa hề trông thấy ngạ quỷ như thế, nên Ngài mỉm cười. Phật cũng xác nhận:

– Các Tỳ-kheo, đệ tử Ta có thiên nhãn và đã sử dụng. Chính Ta đã thấy ngạ quỷ này khi lên ngôi Chánh Giác, nhưng Ta không nói ra vì người không tin lời Ta sẽ có hại cho họ. Nay đã có Mục-kiền-liên chứng kiến, Ta mới nói.

Và theo lời yêu cầu của các Tỳ-kheo, Ngài kể chuyện quá khứ

Chưởng Khố Sumangala và Kẻ Trộm

Thời Phật Ca-diếp, chưởng khố Sumangala đem vàng trải một khoảng đất rộng hai mươi Usabha, tức bằng số tiền xây một tinh xá, kể cả chi phí tổ chức lễ khánh thành tinh xá đó.

Một sáng sớm, trên đường đi đảnh lễ Thế Tôn, ông bắt gặp một tên trộm đang núp ở nhà nghỉ cổng thành, chân bê bết bùn, áo trùm khỏi đầu.

Ông biết hắn đã rình suốt đêm đâu đây. Tên trộm bị phát hiện, đem lòng căm thù ông. Hắn đốt ruộng ông bảy lần, đốt nhà bảy lần, chặt chân bò bảy lần. Chưa hả tức, hắn đánh bạn với gia nhân của ông để hỏi xem ông quý trọng cái gì nhất. Ðược biết đó là hương thất, hắn đợi Thế Tôn vào thành khất thực, liền đập bể bình đựng nước với thức ăn rồi nổi lửa đốt.

Nghe tiếng kêu hương thất bị cháy, chưởng khố chạy tới nhưng đã muộn. Không mảy may buồn tiếc, ông còn hân hoan vỗ tay thật to. Người ta ngạc nhiên hỏi, thì ông giải thích vì sẽ có dịp cúng tiền để xây dựng lại hương thất. Tên trộm nghe thế, cho rằng không thể đánh bại ông, trừ khi giết ông chết. Trong bảy ngày đó ông cúng dường Tăng chúng, và ngày cuối, ông đảnh lễ Phật thưa:

– Bạch Thế Tôn, con biết rằng có một người nào đó bảy lần đốt ruộng, bảy lần đốt nhà, bảy lần chặt chân bò, và cũng chính người ấy đốt hương thất. Con xin nhường phước báo đầu tiên của lần cúng dường này đến người ấy.

Tên trộm núp đâu đó, nghe được, lòng cảm thấy hổ thẹn vì tội lỗi lớn lao của mình, và lo âu vua sẽ giáng hình phạt xuống đầu. Do đó hắn phủ phục dưới chân chưởng khố xin tha thứ. Chưởng khố hỏi chuyện hắn từ đầu tới đuôi, và cũng xin lỗi hắn vì lỡ thốt ra lời nghi kỵ trong đêm bắt gặp hắn núp. Và cả hai bên tha thứ lẫn nhau. Tên trộm còn xin cho hai vợ chồng hắn làm nô lệ cho chưởng khố, nhưng ông không nhận và bảo hắn đi đi.

Và Thế Tôn kết luận:

– Do tạo nghiệp ác như thế, khi mạng chung tên trộm bị đọa vào địa ngục A-tỳ, chịu hình phạt ở đó rất lâu, nhưng quả báo chưa hết, hắn phải chịu đau khổ trên đỉnh Linh Thứu. Các Tỳ-kheo! Khi làm điều ác, kẻ ngu không biết việc ác của mình. Nhưng về sau, hắn sẽ bị thiêu đốt do nghiệp ác đã tạo, như rừng bị lửa cháy.

Và Ngài nói Pháp Cú:

136. “Người ngu làm điều ác,

Không ý thức việc làm.

Do tự nghiệp, người ngu

Bị nung nấu, như lửa.”

 

Bài học cho chúng ta suy ngẫm

  1. Bị người ta hảm hại mà còn cảm ơn thì quả thiệt là một hành động cần noi gương.
  2. Ở trong đời này mà biết phân biệt thiện ác là người sáng suốt. Nhiều lúc vì chưa học lời Phật dạy mà chúng ta cũng đã hoang mang, nhầm lẫn giữa thiện và ác.
  3. Vì làm mà không biết nên gọi là người ngu. Cuộc đời ta đã từng trả những giá rất đắt vì sự không biết. Ngu không có gì đáng trách cả mà chỉ là đáng thương.
  4. Làm sao để nâng cao ý thức được việc mình làm là thiện hay ác, là đúng hay sai? Chánh niệm, tập trung, sáng suốt, bình tỉnh.
  5. Tự nghiệp: những hành động do chính mình chủ động gây ra, và dĩ nhiên, chính mình hưởng chịu kết quả.

Nếu chúng ta vẫn còn chưa ý thức cụ thể việc mình làm thì chúng ta vẫn còn là người ngu, là những kẻ tạo là lỗi lầm và tự nhận chịu kết quả cay đắng.

Phật đã dạy như thế tại Kỳ Viên, liên quan đến ba nhóm Tỳ kheo.

Nhóm thứ nhất: thắc mắc không trung

Chuyện hiện tại: Con Quạ Bị Cháy

Một số Tỳ-kheo đến thăm Thế Tôn xong, rời tinh xá, vào làng khất thực. Dân làng lấy bát, phân phối chỗ ngồi trong nhà nghỉ và trong khi chờ dâng cúng, họ nghe pháp. Bỗng một ngọn lửa phụt cháy dưới nồi cơm đang nêm xốt và cà-ri, bắt lên mái tranh. Một nắm tranh cháy đỏ bung ra khỏi mái, bay lơ lửng trên không. Một con quạ bay qua đâm cổ vào nắm tranh ấy bị đốt cháy đến dòn rụm và rớt xuống đất. Mọi việc xảy ra trước mặt các Tỳ-kheo, thật khủng khiếp. Họ đồng lòng đến hỏi Thế Tôn xem kiếp trước con quạ đã làm.

Chuyện quá khứ: Ðốt Cháy Một Con Bò

– Này các Tỳ-kheo! Thuở xưa con quạ là một nông dân ở Ba-la-nại. Anh cố hết sức điều khiển con bò nhưng nó đi một chút lại nằm xuống, dù bị đánh. Anh nổi giận mắng nó: Tốt lắm! Từ phút này, mày sẽ nằm lại đây cho vừa lòng mày.

Anh lấy rơm quấn hết thân con bò rồi mồi lửa. Bò bị cháy đến dòn và chết ngay. Do hành động ác đó, anh ta chịu đau đớn trong địa ngục rất lâu, sau đó vì nghiệp báo chưa hết phải bảy lần liên tiếp làm thân quạ bị đốt cháy.

Nhóm thứ hai: thắc mắc xuống biển

Chuyện hiện tại: Người Ðàn Bà Bị Ném Xuống Biển

Một nhóm Tỳ-kheo thứ hai đi thăm Thế Tôn trên một chiếc thuyền. Ra giữa biển thuyền bỗng đứng lại không nhúc nhích. Hành khách nghi có một tên xúi quẩy nên rút thăm xem là ai. Thăm rơi trúng vợ thuyền trưởng là một thiếu phụ trẻ đẹp. Họ đồng ý rút thăm lại, lần thứ hai rồi lần thứ ba cũng là vợ thuyền trưởng. Hành khách nhìn thẳng mặt ông hỏi ông bây giờ tính sao? Ông ra lệnh ném cô vợ xuống biển. Cô thét lên kinh hãi vì quá sợ chết. Thuyền trưởng bèn bảo tháo hết nữ trang, rồi vì không đủ can đảm chứng kiến cô vùng vẫy trên mặt biển, ông bảo cột bình cát vào cổ xong hãy ném. Khi thân cô chạm mặt nước, cá và rùa bơi đến rỉa thịt cô. Ngoài Thế Tôn không ai biết được kiếp trước cô đã là gì, vì thế các Tỳ-kheo trên thuyền định sẽ hỏi Thế Tôn khi lên bờ.

Chuyện quá khứ: Dìm Chết Một Con Chó

Người đàn bà này đã chịu đau đớn giống hệt một lần bà đã gây cho kẻ khác. Xưa, bà là vợ một gia chủ ở Ba-la-nại. Bà tự tay làm mọi việc trong nhà, từ lấy nước, giã gạo, nấu nướng, với một con chó ngồi một bên. Ra ngoài đồng gom lúa hay vào rừng nhặt củi, con chó cũng đi theo. Ðám thanh niên thấy thế chọc ghẹo bà:

– A! Ðây là thợ săn đi với con chó. Hôm nay chúng ta sẽ có thịt ăn đấy!

Bực mình, bà đánh chó, ném đá đất và đuổi nó đi. Nhưng chạy đi một quãng, nó quay trở lại theo bà. (Trong kiếp trước, con chó là chồng bà, do đó tình cảm của nó đối với bà vẫn còn).

Bà rất tức giận, nhưng vẫn tiếp tục làm việc. Gom lúa đủ dùng, lượm một sợi dây cột vào chéo áo, bà về nhà, con chó vẫn lẽo đẽo theo sau. Lo bữa ăn cho chồng xong, bà lấy cái bình không ra hồ nước. Ðổ cát đầy bình, bà nhìn quanh và nghe tiếng chó sủa bên cạnh. Chó chạy đến, ngoắc đuôi mừng rỡ vì tưởng bà sẽ vui vẻ với nó. Bà nắm chặt cổ nó buộc vào một đầu dây, còn đầu kia cột bình nước, quăng xuống hồ. Con chó bị bình kéo xuống nước chết ngay. Hành động ác chín muồi, bà ta bị đọa rất lâu ở địa ngục. Sau đó nghiệp báo chưa hết, nên trong một trăm kiếp liên tiếp bà bị cột cổ vào bình cát ném xuống biển chết chìm.

Nhóm thứ ba: thắc mắc mặt đất

Chuyện hiện tại: Các Tỳ Kheo Bị Giam Trong Hang

Có bảy Tỳ-kheo lên đường đi gặp Thế Tôn. Họ đến tinh xá nọ vào buổi chiều. Lúc đó có bảy chiếc giường trong một thạch thất, và họ ngủ trong đó. Ðêm khuya, một hòn đá lớn bằng ngôi chùa lăn từ dốc bên kia xuống và bít lối vào hang. Các Tỳ-kheo tại đó cùng với dân trong bảy làng hợp lực hết mình cùng với Tỳ-kheo bên trong đẩy hòn đá đi, nhưng không nổi. Suốt bảy ngày người bị nhốt đói meo; đến ngày thứ bảy, thình lình hòn đá tự động lăn khỏi miệng hang. Các khách tăng được trả tự do, họ chờ gặp Phật để hỏi nguyên nhân.

Trên đường đi, họ gặp hai nhóm Tỳ-kheo trước và chung đường đến gặp Phật, đảnh lễ Ngài và ngồi xuống một bên. Tuần tự mỗi nhóm xin Phật giải thích và được nghe Phật kể:

Chuyện quá khứ: Giam Cầm Một Con Cắc Kè

Cũng thế, này các Tỳ-kheo! Các ông phải chịu đau đớn y như lần đã gây cho người khác. Xưa, bảy chú mục đồng ở Ba-la-nại chăn một bầy gia súc từng đợt bảy ngày. Gặp một con cắc kè khổng lồ, mấy chú đuổi theo, nhưng nó đã nhanh chân chui vào ụ mối có bảy lỗ.

Mấy chú đành chịu thua, nhưng họ sẽ trở lại. Ngày mai mấy chú trở lại ụ mối, mỗi người lấy cây chà nhét bít mỗi lỗ, xong lùa bò đi nơi khác. Bảy ngày sau, nhớ đến con cắc kè, bảy chú mục đồng trở lại ụ mối moi lấy cây chà ra, cắc kè bò ra ngoài chẳng kể sống chết, chỉ còn da bọc xương, run lẩy bẩy. Bảy chú thương tình bảo nhau đừng giết nó, và còn vuốt lưng chúc nó đi bình an. Do đó tuy bảy chú không rơi vào địa ngục, nhưng mười bốn kiếp liên tiếp thiếu thức ăn trong bảy ngày liền. Các Tỳ-kheo, các ông là bảy mục đồng ấy, và đó chính là hành động xấu ác mà các ông đã làm.

Như thế Phật đã trả lời câu hỏi của ba nhóm Tỳ-kheo, giải thích cả ba chuyện đã xảy ra. Một Tỳ-kheo vẫn còn thắc mắc, hỏi: Bạch Thế Tôn, một người làm ác không thể nào tránh hậu quả bằng cách bay lên không, lao xuống nước, hay trốn vào hang núi sao?

Phật đáp: Này các Tỳ-kheo! Không thể tìm ra nơi nào để trốn tránh, dù trên không, dưới biển hay trong lòng đất. Không nơi nào trên thế gian này có thể thoát khỏi hậu quả của việc làm ác.

Và Ngài nói Pháp Cú:

127. “Không trên trời, giữa biển,

Không lánh vào động núi,

Không chỗ nào trên đời,

Trốn được quả ác nghiệp.”

 

QUÁN CHIẾU BÀI HỌC TỪ NHỮNG CÂU CHUYỆN TRÊN

  1. Hiện tại là quạ bị chết cháy, quá khứ nông dân đốt con bò; hiện tại là thiếu nữ xinh đẹp bị ném xuống biển, quá khứ là bà chủ độc ác nhấn chìm con chó trung thành; hiện tại là tỳ kheo bị nhốt đói trong hang; quá khứ là đứa trẻ đùa giỡn nhốt tắt kè. Dưới ánh sáng của giáo lý nghiệp cho thấy mình sẽ nhận lại những gì mình cho đi, tốt cũng như chưa tốt, thậm chí khi nhận lại còn nhiều hơn, vui cũng như khổ. Đồng thời, nếu hiểu biết về nghiệp, cho ta thấy rõ sáu đường thay hình đổi dáng hưởng chịu khổ vui: nay quạ mà xưa là người, bò, tắc kè, thầy tu, vân vân xoay vần trả nợ trả ân cho nhau.
  2. Một ý nghĩ sân giận đã sai khiến anh nông dân cột rơm đốt bò; một niệm si mê đã sai khiến bà chủ cột bình nước vào cổ chó và quăng nó xuống hồ; một ý nghĩa tham vui đã sai khiến những chú bé lấp hang bít cửa con tắt kè. Cho chúng ta thấy, tham sân si là máu, là tủy, là hơi thở nuôi sống cơ thể nghiệp.
  3. Chúng ta đã từng chứng kiến những quả ác nghiệp, hay quả thiện nghiệp như những câu chuyện trên hay không trong cuộc sống? Nếu có thì khi đó ta có thắc mắc không? có tư duy theo nhân quả nghiệp báo không? có tìm câu trả lời trong ánh sáng của tư duy vô ngã, vô thường không?
  4. Đọc lại lời dạy của Phật: không tìm ra nơi nào để trốn tránh khỏi hậu quả của việc ác trong thế gian này. Cũng vậy, không tìm ra nơi nào để trốn tránh hỏi những kết quả của những việc lành trong cuộc đời này. Niềm tin cuộc sống ở đây: làm việc tốt chắc chắn 100/1000 sẽ nhận được may mắn. Hơn thế nữa, thay vì trốn tránh, hãy đối diện và thay đổi cục diện. Đó là tinh thần sống của người con Phật.
  5. Không chỗ nào trên đời, Trốn được quả ác nghiệp.” Kết quả của hành động phụ thuộc vào nguyên nhân của hành động. Không trốn được quả ác nghiệp vì nhân đã gây ra rồi, hạt giống đã gieo xuống đất, được tưới tẩm, đủ ánh sáng và những điều kiện thì chắc chắn sẽ nẩy mầm, đơm hoa kết trái. Chúng ta có trốn được “quả thiện nghiệp” không? Nếu không thì hãy yên tâm làm việc lành, đừng bao giờ tiếc, đừng bao giờ hối hận vì quả thiện nghiệp sẽ đến với mình dù mình ở bất cứ nơi nào trong cõi trần gian này.

Mong rằng từ những câu chuyện trên đây, chúng ta quyết tâm không trốn tránh quả ác nghiệp mà mình đã vô tình hay cố ý gây nhân. Thay vào đó hãy sáng suốt đối diện và thay đổi chuyển hóa dòng chảy của nghiệp từ khổ sang vui, từ ác thành thiện. Một điều quan trọng nữa là kiến cố niềm tin rằng: “Không trên trời, giữa biển, Không lánh vào động núi, Không chỗ nào trên đời, Trốn được quả thiện nghiệp.” Đó là niềm tin làm lành và quyết tâm lành lành.

THƯ MỜI

v/v tham dự lễ Cung an trụ trì Chùa Việt Nam Boston

Boston ngày 1 tháng 7 năm 2015

Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

Kính bạch chư tôn đức Tăng Ni,

Kính thưa quý Phật tử đồng hương,

Chùa Việt Nam Boston thành lập  năm 1991, tính đến nay đã được 24 năm. Trong khoảng thời gian gần một phần tư thế kỷ ấy, Chùa đã được nhiều Tăng Ni đến cư trú và hướng dẫn Phật tử tu tập. Do vì nhân duyên chưa đầy đủ mà trong khoảng thời gian dài như vậy vẫn chưa có vị Tăng Ni nào thường trú để chính thức đảm nhận trách nhiệm duy trì và phát triển ngôi già-lam này.

May mắn thay, vào năm 2011, một vị Tăng được mời về cư trú tại Chùa với tâm nguyện nhang đỏ cỏ sạch, lượm sỏi trồng hoa và theo đuổi sự nghiệp học vấn. Nay thấy nhân duyên đã hội đủ, toàn thể Phật tử bổn tự sẽ tổ chức buổi lễ chính thức cung thỉnh Đại đức Thích Chánh Trí đảm nhận trách nhiệm trụ trì chùa Việt Nam.

Buổi lễ Cung Thỉnh Trụ Trì sẽ được tổ chức tại:

Chùa Việt Nam, 68 Bradeen street, Roslindale, MA 02131, lúc:

11 giờ trưa, ngày Chủ Nhật 9 tháng 8 năm 2015 (nhằm ngày 25 tháng 6 Ất Mùi)

Dưới sự chứng minh của

Hòa thượng Thích Nguyên Hạnh, Viện chủ Trung tâm Phật giáo chùa Việt Nam Houston, Texas.

Đại đức Thích Nguyên Dũng, trụ trì chùa Hương Sơn, Springfield, Massachusets.

Đại đức Thích Trung Tịnh, trụ trì chùa Từ Ân, Sacramento, California.

Đại đức Thích Phước Thành, Tăng chúng chùa Tam Bảo, Tulsa, Oklahoma.

Chư Tăng chùa Lâm Tỳ Ni, Massachusetts

Ni sư Thích Nữ Trí Hòa, trụ trì chùa Linh Sơn, Worcester

Sư cô Thích Nữ Tịnh Nghiêm, chùa Ưu Đàm, Nevada.

Sư cô Thích Nữ Hạnh Tín, Tịnh viện Quan Âm, Haverhill, Massachusetts.

Sư cô Thích Nữ Hạnh Liên, Tịnh Viện Quan Âm, Haverhill, Massachusetts.

Quý Sư Cô chùa Huê Lâm, Fitchburg, Massachutsetts.

cùng một số Tăng Ni trong vùng New England và các tiểu bang khác.

 

Chương trình buổi lễ như sau:

Thứ bảy ngày 8 tháng 8 năm 2015

  • 6:00 pm:      Thí thực cô hồn
  • 7:30 pm:      Sinh hoạt cùng chư tôn đức Tăng Ni

Chủ nhật ngày 9 tháng 8 năm 2015

  • 10:45 am:    Phật tử vân tập, ổn định đạo tràng
  • 11:00 am:    Cung thỉnh chư tôn đức Tăng Ni quang lâm chánh điện
  • 11:05 am:    Cử hành nghi lễ cầu nguyện
  • 11:30 am:    Lễ Cung an trụ trì chùa Việt Nam
      • Bài hát
      • Giới thiệu thành phần tham dự
      •  Gia đình Phật tử Liên Hoa dâng hoa chào mừng
      •  Đại diện Phật tử chùa Việt Nam phát biểu, tặng hoa và dâng khuôn dấu chùa cho Đại đức tân trụ trì
      • Đại diện Tăng thân Mỹ phát biểu
      • Đại đức Thích Chánh Trí phát biểu
      • Hòa thượng Thích Nguyên Hạnh ban đạo từ
      • Bài hát
  • 01:00 pm:    Cảm tạ
  • 01:15 pm:    Thọ trai thân mật và văn nghệ

 

Toàn thể Phật tử chùa Việt Nam trân trọng kính mời quý vị Phật tử đồng hương dành thời gian về tham dự buổi lễ để động viên và khích lệ chúng tôi trên con đường tu học và hoằng dương Chánh pháp.

Trân trọng kính mời.

Toàn thể Phật tử Chùa Việt Nam Boston