header image

All posts in June, 2015

Câu chuyện này Thế Tôn dạy ở Kỳ Viên, liên quan đến Cấp Cô Ðộc.

Trưởng giả Cấp Cô Ðộc đã chi hết năm trăm bốn mươi triệu của cải cho Tăng đoàn của Phật tại tinh xá Kỳ Viên, một ngày ba lần đến hầu hạ Thế Tôn. Nghĩ rằng những người tập sự và Sa-di hay để ý ông sẽ mang gì cúng dường, nên không bao giờ ông đến tinh xá tay không. Sáng sớm, ông thường đem cháo. Sau giờ thọ thực, ông mang bơ tươi và thuốc men. Buổi chiều mang hương, hoa, cao (mỡ bôi) và y phục.

Dần dần ông nghèo đi, vì ngoài phần cúng dường ông đã cho các nhà buôn mượn một trăm tám mươi triệu, chưa kể một trăm tám mươi triệu dành cho gia đình chôn giấu tại bờ sông đã trôi ra biển lúc đất lở. Tuy thế ông vẫn cúng dường chúng Tăng như trước, dù thức ăn không được ngon lành nữa.

Một hôm Thế Tôn hỏi ông:

– Gia chủ vẫn mang vật thực từ nhà đến cúng dường Tăng chúng chứ?

Ông thưa:

– Vâng, bạch Thế Tôn. Nhưng thức ăn chỉ có cháo chua, vừa ít vừa dở.

– Gia chủ đừng nên buồn phiền khi nghĩ rằng đã dâng lên Thế Tôn thức ăn tồi. Nếu ý định thanh tịnh thì món gì dâng lên chư Phật và những vị khác không thể gọi là xấu tệ được. Ông đã dâng cúng lên tám bậc Thánh. Trước đây trong thời Velàma. Ta đã quấy động toàn nước Ấn Ðộ với rất nhiều phẩm vật, nhưng không khuyên được ai thọ Tam quy. Khó mà tìm được người xứng đáng để dâng cúng. Do đó đừng phiền muộn khi nghĩ rằng món dâng của ông dở tệ.

Nói xong, Thế Tôn đọc kinh Velàma.

Khi Thế Tôn và các Thánh đệ tử bước vào nhà ông Cấp Cô Ðộc, nữ thần ngụ trên cổng không thể ở lại đó, vì sức mạnh thiện đức của các Ngài. Cô định sẽ xúi giục gia chủ đừng trung thành với các Ngài, để các Ngài không vào nhà nữa. Lúc tài sản của ông đang cực thịnh, nữ thần dù có nói ông cũng không nghe, bây giờ nghèo ông sẽ sẵn sàng để ý đến lời cô. Do đó ban đêm cô đến phòng Trưởng giả tự giới thiệu và khuyên ông phải nghĩ đến tương lai; ông đã phung phí biết bao vào Giáo đoàn của Phật, bây giờ nghèo rồi ông vẫn cúng dường, nếu ông vẫn tiếp tục như thế mãi thì chẳng bao lâu ông sẽ không còn một hột cơm lót lòng, hay một mảnh vải che thân. Cô còn lên giọng kẻ cả dạy thêm:

– Sa-môn Gotama có ích lợi gì cho ông? Ðừng dại dột phung phí nữa, hãy để tâm vào chuyện làm ăn và tạo cơ may.

Trưởng giả ngồi im lắng nghe hết, rồi mới bảo:

– Ðây là điều mà cô đến khuyên tôi có phải không? Thế thì, hãy cút đi! Dù cố thuyết trăm, ngàn lần như thế cô cũng chẳng lay chuyển được tôi. Cô đã nói với tôi những điều không đáng nói. Việc gì cô phải ở trong nhà tôi chứ? Hãy ra khỏi nhà tôi tức khắc!

Nữ thần không thể không tuân theo lời nói của một cư sĩ đã chứng quả Dự-lưu, nên lập tức đem con ra khỏi nhà ông.

Nhưng sau đó cô không thể tìm ra chỗ nào khác để ở. Cô đến vị trời cai quản thành kể tội lỗi của mình, xin ông đến nhà Trưởng giả thuyết phục ông tha thứ và cho cô ở lại. Nhưng vị trời từ chối, vì cô đã nói điều không đáng nói. Cô đến Tứ thiên vương, nhưng họ cũng từ chối với cùng một lý do. Rồi cô cầu cứu với thiên chủ Ðế Thích. Ngài bày cho cô khoác y phục của quản gia Trưởng giả, ghi danh sách tài sản của ông đã phân tán, tức là một trăm tám mươi triệu cho nhà buôn mượn, một trăm tám mươi triệu bị cuốn ra biển và một trăm tám mươi triệu không ai giữ ở nơi này nơi nọ, và dùng thần lực đòi và gom lại, xong chất vào kho trống của ông. Làm như vậy để chuộc lỗi, và sau đó xin ông tha thứ cho cô. Nữ thần vâng theo. Công việc hoàn thành, cô đứng trên không chiếu hào quang xuống phòng Trưởng giả trình bày các việc đã làm, và xin ông cho cô chỗ ở, vì hiện nay cô không tìm được nơi nào, nên rất là vất vả mệt nhọc.

Cấp Cô Ðộc dẫn cô đến bậc Toàn Giác, bảo kể lại mọi sự. Nữ thần úp mặt trước Thế Tôn thưa:

– Bạch Thế Tôn! Vì điên rồ con không nhận ra công đức to lớn của Ngài, và đã nói lời xấu ác, xin tha thứ cho con.

Như thế nữ thần đã xin lỗi Thế Tôn lẫn Trưởng giả, và được Thế Tôn khuyên nhủ:

– Ngay trong đời này, Ðại Trưởng giả! Một kẻ làm ác vẫn cảm thấy tốt lành chừng nào hành động ác của họ chưa chín muồi. Nhưng ngay khi hành động ác chín muồi, họ sẽ chỉ thấy xấu. Cũng thế, một người lành thấy việc xấu dữ bao lâu việc thiện của mình chưa chín muồi, nhưng ngay khi hành động thiện chín muồi, họ chỉ thấy tốt lành.

Nói xong Ngài đọc Pháp Cú:

119. “Người ác thấy là hiền.

Khi ác chưa chín muồi,

Khi ác nghiệp chín muồi,

Người ác mới thấy ác.”

 

120. “Người hiền thấy là ác,

Khi thiện chưa chín muồi.

Khi thiện nghiệp chín muồi,

Người hiền thấy là thiện.”

 

Bài học từ câu chuyện trên

  1. Thực tế chung mà xưa nay đều có: lòng muốn làm thiện nhưng tiền thì không có: xưa Cấp Cô Độc cúng dường Tăng chúng đến nổi sạt nghiệp; nay chúng ta nhiều lúc cũng vì làm việc thiện mà hết gia tài.
  2. Lời khuyên của đức Phật: Nếu ý định thanh tịnh thì món gì dâng lên chư Phật và những vị khác không thể gọi là xấu tệ được. Đừng phiền muộn khi nghĩ rằng món dâng của ông dở tệ. Bài học về tâm lý: đừng buồn phiền khi nghĩ rằng không có gì để giúp người khác. Nhấn mạnh lĩnh vực tâm ý khi làm việc thiện: ý định thanh tịnh thì phẩm vật thanh tịnh.
  3. Bài học từ kinh Velama: Cách bố thí và tâm trạng khi bố thí: người thí, vật thí, tâm trạng, thái độ, những người hỗ trợ
  4. Bố thí tạo ra quả dị thục của các nghiệp làm không cẩn thận
  5. Bố thí tạo ra quả dị thục của các nghiệp làm cẩn thận: dầu có bố thí các món thô hay tế, nếu bố thí có cẩn thận, bố thí có chú tâm, bố thí tự tay mình, bố thí những vật không quăng bỏ đi, bố thí có nghĩ đến tương lai; chỗ nào, chỗ nào, sự bố thí ấy sanh quả dị thục, thời tâm thiên về thưởng thức các món ăn thù diệu, tâm thiên về thưởng thức y áo thù diệu, tâm thiên về thưởng thức các cỗ xe thù diệu, tâm thiên về thưởng thức năm dục công đức thù diệu. Và các người con, hay vợ, hay những người phục vụ, hay những người đưa tin, hay những người làm công, họ có khéo nghe, họ có lóng tai, họ có an trú tâm hiểu biết.

Phân biệt phước đức bố thí: đối tượng cho góp một phần rất lớn trong việc hình thành nghiệp quả.

  1. Câu chuyện tiền thân của Phật trong vai trưởng giả Velama về việc bố thí rộng lớn: cung cấp số lượng rất lớn 4 thứ nhu yếu cuộc sống (ẩm thực, y phục, thuốc và chỗ ngủ)
  2. Bố thí rộng lớn không bằng bố thí cho một người chánh kiến
  3. 100 người chánh kiến không bằng 1 vị Nhất lai
  4. 100 vị Nhất lai không bằng 1 vị Bất lai
  5. 100 vị Bất lai không bằng 1 vị A la hán
  6. 100 vị a la hán không bằng 1 vị Độc giác Phật
  7. 100 vị độc giác Phật không bằng 1 vị Phật chánh đẳng giác
  8. Chúng tăng
  9. Người xây dựng tăng xá
  10. Quy y tam bảo
  11. Người hành trì ngũ giới
  12. Người tu tập từ tâm
  13. Người thực hành vô thường quán
  14. Hình ảnh Nữ thần là hình ảnh của những người xúi giục người khác từ bỏ làm việc lành, ngăn cản người khác làm việc thiện, đặc biệt là những lúc họ sa cơ lỡ vận, thất bại. Đó cũng là hình ảnh của những tâm niệm hẹp hòi, ích kỷ, nhỏ nhen, mê mờ thường xuyên nổi dậy trong tâm chúng ta. Chính những người ác và tâm niệm ác như thế cản trở chúng ta làm lành, gieo thiện nghiệp.

Nhìn lại xem ta đã từng khuyên người khác bớt làm thiện khi thấy họ sa cơ lỡ vận? Ta đã từng là hiện thân của nữ thần, đối tượng được nói đến trong bài kệ thứ 119.

  1. Hình ảnh ông Cấp Cô Độc: đối tượng của bài kệ 120

a)    Buồn phiền lo lắng khi không đủ khả năng cúng dường tăng chúng những thức ăn ngon vì nghèo. Chúng ta cũng đã từng hơn một lần có chung tâm trạng như thế này. Lời khuyên là: tiếp tục cúng với tâm ý thanh tịnh mới thoát được nghèo.

b)    Không nghe theo lời xúi giục, mà nhiều lúc rất hợp tình hợp lý đối với chúng ta,  của nữ thần. Kiên quyết, dũng cảm tiếp tục con đừng mình đang đi, tiếp tục cúng dường dù khánh kiệt gia tài. Chúng ta cần sáng suốt trước những lời khuyên, đặc biệt là những lời khuyên bớt làm lành, ít đi chùa, tránh xa tam bảo.

  1. Từ hai bài kệ trên cho chúng ta thấy hai cái nhìn sai lầm về nghiệp: vì mê mờ nên khi thiện nghiệp chưa chín, chưa có kết quả chúng ta cho đó là ác nghiệp; ác nghiệp chưa thành quả ta cho đó là thiện. Chỉ khi có kết quả mới tự nhận hành động mình đã làm là thiện hay ác. Ví dụ như trồng cây, như nuôi dạy con.

Người sáng suốt, có trí thì ý thức thiện ác ngay từ đầu, ngay từ trong nhân, chứ không đợi đến lúc cuối, lúc ra quả. Vì thế học vẫn tiếp tục làm thiện, dù trên con đường đi đến quả ấy có những chướng ngại, khó khăn.

  1. Đừng nhìn vào những nghiệp quả mà đánh giá người khác là ác hay thiện vì thiện nghiệp cần thời gian để chín muồi. Biết khi nào nghiệp chín muồi thì cần phải có tuệ giác.
  2. Hãy dũng cảm và kiên trì làm thiện, không bao giờ từ bỏ sự san sẻ giúp đở, dù trên con đường làm thiện ấy có những giai đoạn khó khăn, thị phi, trở ngại, xúi giục, vu khống, mỉa mai.

Nghiệp trong kinh Pháp Cú – BÀI HỌC SỐ 8: Mất Một Mắt

Hôm nay ngày 14 tháng 6 năm 2015, chúng ta tiếp tục học chữ nghiệp trong kinh Pháp cú.

Tại Kỳ Viên, Phật đã dạy câu trên liên quan đến một Sa-di của Trưởng lão Tissa. Một thanh niên vọng tộc ở Kosambi xuất gia thành Sa-môn trong giáo đoàn của Phật. Làm xong bổn phận, ông được danh xưng Trưởng lão Kosambivàsi Tissa. Thí chủ của ông cúng dường ba y với mật, đường, đặt dưới chân. Ông hỏi: Gì thế, cư sĩ?

Họ thưa: Bạch Tôn giả, Ngài đã ở đây với chúng con suốt mùa mưa, ai như thế đều được cúng dường. Xin hãy nhận, Tôn giả!

– Ðừng quan tâm, cư sĩ. Tôi không cần dùng. Tôi không có Sa-di để làm những việc tạp dịch cho tôi, đạo hữu ạ.

– Bạch Tôn giả, nếu thế con trai con sẽ làm Sa-di cho Ngài.

Trưởng lão vui lòng nhận phẩm vật. Cư sĩ đem đứa con lên bảy tuổi giao phó cho Trưởng lão xin được nhận vào Tăng đoàn. Trưởng lão cạo tóc cho chú, dạy thiền quán trên năm yếu tố đầu của thân, và nhận chú vào Tăng đoàn. Ngay khi lưỡi dao chạm vào tóc, chú chứng A-la-hán cùng những thần thông.

Trưởng lão ở lại đó nửa tháng, rồi sai Sa-di lấy những món cần dùng, lên đường thăm Thế Tôn. Trên đường đi ông ghé vào một tinh xá. Chú Sa-di lo kiếm chỗ cho Trưởng lão nghỉ, sửa soạn sắp xếp xong thì trời tối, chú không thể kiếm chỗ cho mình. Thấy đệ tử chưa có chỗ, Trưởng lão cho chú vào phòng ngủ tiện hơn là ngủ bên ngoài, nơi dùng cho khách. Bấy giờ Trưởng lão chưa chúng quả Dự lưu, nằm xuống ông ngủ ngay. Riêng chú Sa-di phải ngồi kiết già gần giường thầy suốt đêm, tính đến hôm nay là ngày thứ ba chú ở chung phòng với thầy nên không dám nằm xuống ngủ, vì sợ phạm lỗi ngủ chung.

Sáng ra Trưởng lão thức dậy cầm quạt để sẵn trên giường, đập đầu lá cọ trên chiếu của chú Sa-di rồi ném quạt bảo: Sa-di, dậy đi!

Cán quạt trúng vào mắt làm đui luôn mắt chú. Chú vẫn bình tĩnh thưa hỏi lại:

– Thưa Tôn giả, Ngài dạy gì?

– Dậy đi ra!

Chú vẫn im lặng, ôm mắt đi ra. Ðến giờ làm bổn phận chú không hé môi nói con mắt của mình bị đui, cũng không ngồi lại, một tay che mắt, một tay cầm chổi, chú quét cầu tiêu, phòng tắm, rồi tiếp tục múc nước rửa mặt, quét phòng cho thầy. Nhưng khi đưa tăm cho thầy, chú đưa một tay. Trưởng lão quở:

– Chú tiểu này chưa được dạy đàng hoàng. Có Sa-di nào đưa tăm cho thầy mà đưa một tay không?

– Bạch Tôn giả, con biết rõ phải làm sao cho đúng, nhưng một tay con không được tự do.

– Có việc gì thế, Sa-di?

Chú kể lại sự việc, Trưởng lão nghe xong quá ư xúc động, thấy mình đã gây một việc rất tệ hại.

Ông bảo chú:

– Tha lỗi cho tôi, chú bé tuyệt vời! Tôi không được biết. Hãy cho tôi được nương tựa! Và ông cung kính đảnh lễ Sa-di mới lên bảy. Chú thưa:

– Không phải vì muốn được như thế mà con nói ra, thưa Tôn giả. Con nói ra để Ngài khỏi phải lo lắng. Ngài không có lỗi trong việc này, kể cả con nữa. Chỉ có luân hồi gây ra tội lỗi này. Vì con muốn Ngài khỏi phải ăn năn, nên con đã không nói sự thật với Ngài ngay từ đầu.

Chú cố gắng khuyên giải Trưởng lão nhưng không được. Quá ân hận, Trưởng lão lấy những món tùy thân của Sa-di rồi đến gặp Thế Tôn. Phật đang ngồi trên tòa thấy Trưởng lão tiến đến, hỏi:

– Tỳ-kheo, mọi việc tốt đẹp chứ? Chắc ông không có gì phiền phức?

Trưởng lão thưa:

– Bạch Thế Tôn, đối với con không có gì phiền hà, nhưng ở đây có chú tiểu đức hạnh tuyệt vời, con chưa từng thấy.

Và Trưởng lão thuật chuyện cho Phật nghe.

Phật bảo:

– Tỳ-kheo! Người thoát khỏi dục lậu không còn sân giận hận thù bất cứ ai, trái lại tâm ý đều an tịnh. Và Ngài nói Pháp Cú:

96. “Người tâm ý an tịnh,

Lời an, nghiệp cũng an,

Chánh trí, chơn giải thoát,

Tịnh lạc là vị ấy.

 

Quán chiếu và kết luận

–         Thiền quán trên năm yếu tố đầu của thân là: quán hơi thở, quán 4 cử động, quán các trạng thái khác như tới lui co duỗi, quán 32 vật bất tịnh, và quán về 4 đại trong thân.

–        Phép không được ngủ chung phòng với thầy mà một người sa di phải học.

–        Quả Dự Lưu nằm xuống ngủ ngay, quả La Hán thì không như thế.

–        Bị thầy làm cho mù một mắt mà bình tĩnh, không hé môi, không ngồi lại, không nói mình bị mù? Đúng là phong thái La hán.

–        Suy ngẫm toàn bộ đoạn văn sau đây: “Không phải vì muốn được như thế mà con nói ra, thưa Tôn giả. Con nói ra để Ngài khỏi phải lo lắng. Ngài không có lỗi trong việc này, kể cả con nữa. Chỉ có luân hồi gây ra tội lỗi này. Vì con muốn Ngài khỏi phải ăn năn, nên con đã không nói sự thật với Ngài ngay từ đầu.” Khi một sự việc như ý hay bất như ý xảy ra, không ai có lỗi. Quan tâm đến người khác trước dù mình bị thiệt thòi cũng là một phong thái nổi bật cả vị A La hán.

–        Người tâm ý an tịnh: chú tiểu A La Hán, người thoát khỏi dục lậu, không còn sân giận hận thù bất cứ ai.

–        Nhờ tâm ý an tịnh nên chú tiểu mới có được phong thái như vậy: lời an, nghiệp cũng an.

–        Nghiệp cũng an nghĩa là người ta làm mình mù mắt mà mình không tiếp tục tạo thêm nghiệp mới như trách móc, giận hờn. Thay vào đó là im lặng, bình tỉnh, không phân minh. Phương pháp chuyển hóa nghiệp.

–        Chánh trí chơn giải thoát: nhờ có tuệ giác, nhất là cái tuệ giác không ai có lỗi, chỉ luân hồi gây ra lỗi, giúp cho chú tiểu La hán an vui như vậy dù bị mù mắt.

–        Tịnh lạc: tịnh là không bị dục lậu chi phối, chẳng nổi tham sân si khi đối diện nghịch cảnh. Lạc là dù bị nghịch cảnh cũng vẫn tôn trọng, hỗ trợ, giúp đở, thương người khác.

 

kẾT LUẬN

–        Mục đích chúng ta học giáo lý nghiệp cũng để được tâm ý an tịnh, nghiệp an tịnh, lời an tịnh nương vào tuệ giác.

–        Chỉ có tuệ giác mới giúp chúng ta hiểu rõ nghiệp và giải thoát nghiệp để sống đời bình an, vui vẻ.

–        Hãy ghi nhớ phong thái La hán của chú tiểu để làm gương trong cuộc sống chúng ta.

Nghiệp trong kinh Pháp Cú – BÀI HỌC SỐ 7: CHUYỆN CỦA QUỶ RẮN VÀ QUỶ QUẠ

Một ngày nọ, Tôn giả Ðại Mục-kiền-liên từ đỉnh núi Linh Thứu xuống thành Vương Xá định khất thực. Thấy một con quỷ rắn, ngài Mục-kiền-liên mỉm cười. Con quỷ rắn, đầu giống đầu người, khúc dưới giống rắn, nên gọi là quỷ rắn. Thân nó dài hai mươi lăm dặm. Lửa bốc từ đầu đến đuôi, từ đuôi đến đầu. Lửa từ đầu đốt hai bên thân, lửa từ hai bên thân đốt cả người.

Quỷ Rắn

Xa xưa, dân chúng dựng một lều cỏ bên bờ sông Ba-la-nại cho vị Phật Ðộc Giác. Ngài thường vào thành khất thực, và dân trong thành thì sáng và chiều mang hương hoa đến hầu Ngài. Họ hay giẫm lên đám ruộng của một nông dân. Anh ta cố ngăn cản họ, nhiều lần không được, và nghĩ rằng chỉ tại vì có lều của Phật Ðộc Giác, nên anh ta đập bể vò đựng thức ăn, nước uống, xong nổi lửa đốt lều cỏ, khi Ngài đã vào thành khất thực.

Trở về thấy lều ra tro, Ngài ra đi tùy thích. Dân trong thành mang hương hoa đến cúng như thường lệ, thấy lều đã cháy, thắc mắc không biết tôn sư của họ đi đâu. Anh nông dân, cũng đứng trong đám đông, thú nhận là mình đã đốt lều cỏ. Ðám đông la lên bắt anh ta. Tất cả chỉ vì tên ác ôn này mà họ mất đi đặc ân được gặp một vị Phật Ðộc Giác. Do đó họ lấy gậy đánh đập anh, lượm đá ném anh đến chết và anh bị đọa vào địa ngục A tỳ. Ðến khi đại địa nâng cao một dặm, anh ra khỏi ngục, nhưng vì ác báo chưa hết, anh sanh làm quỷ rắn ở đỉnh Linh Thứu.

Con Quỷ Quạ

Một lần khác, Ngài Mục-kiền-liên thấy con quỷ quạ chịu khổ sở trên đỉnh ngọn Linh Thứu. Qủy quạ có lưỡi dài năm dặm, đầu dài chín dặm, thân dài hai lăm dặm. Tôn giả hỏi nguyên nhân vì sao và con quạ kể:

Thưa Tôn giả, thời Phật-Ca-diếp, dân làng thấy một nhóm Tỳ-kheo vào làng khất thực, đón tiếp ân cần, dâng chỗ ngồi trong nhà nghỉ, cúng cháo, thức ăn cứng, rửa chân và xức dầu cho các Tỳ-kheo. Trong khi chờ đến giờ sớt bát, họ ngồi nghe pháp. Hết thời pháp, họ sớt nhiều thức ăn ngon từ nhiều nhà đem đến, trao lại cho chúng Tăng. Lúc đó, tôi là một con quạ đậu trên đòn dông nhà nghỉ, thấy thế, tôi ngậm ba miếng thức ăn trong bình bát của một dân làng và ăn hết. Thức ăn đó không thuộc về chúng Tăng, không cúng và trao đến chúng Tăng, chỉ đơn thuần là phần chúng Tăng ăn còn dư mà dân làng mang về nhà để ăn. Ðó là tội lỗi của tôi ở kiếp trước. Quả báo là khi mạng chung tôi bị đọa vào địa ngục, và sau đó vì quả báo chưa hết, tôi tái sanh lên đỉnh Linh Thứu làm quỷ quạ.

Từ hai câu chuyện này, Thế Tôn dạy: Này các Tỳ-kheo, hành động xấu ác giống như sữa. Sữa không thể đông ngay khi vừa mới chảy ra, thì hành động xấu ác cũng không thể chín muồi ngay lập tức. Nhưng một khi đã chín muồi thì khổ đau như thế đấy. Và Ngài đọc Pháp Cú:

 

71. “Nghiệp ác đã được làm,

Như sữa, không đông ngay,

Cháy ngầm theo kẻ ngu,

Như lửa tro che đậy.”

 

Bài học từ hai câu chuyện

  1. Đời này làm quỷ rắn là vì đời trước đập phá và đốt cháy nơi cư trú của một vị Phật. Hành động này xuất phát từ sự bực tức do những người phụng sự đức Phật ấy giẫm nát ruộng của họ. Đời này làm quỷ quạ vì trời trước trộm cắp thức ăn của người khác.
  2. Nghiệp ác mà người nông dân tiền thân quỷ rắn đã làm: suy nghĩ sai lầm (vì đức Phật kia mà ruộng anh bị phá), hành động sai lầm (đập phá đồ đạc, đốt chòi tranh). Nghiệp bất thiện mà con quạ đã làm là trộm thức ăn thừa.
  3. Hình ảnh những người dân phụng sự đức Phật và giẫm đạp ruộng người khác, được can ngăn nhiều lần nhưng vẫn không nghe. Làm việc tốt nhưng trong quá trình làm việc tốt ấy đã gây ra việc xấu. Xét lại bản thân: đi chùa là tốt, đến chùa gây phiền toái người khác là xấu.
  4. Hình ảnh sữa và tro. Việc xấu đã làm rất nhiều khi chưa có kết quả ngay lập tức. Điều này tạo ra cơ hội thay đổi và cũng tạo cơ hội tiếp tục làm xấu. Tro cháy ngầm được ví như vì mê mờ nên ta không nhận biết được nguyên nhân và kết quả của những hành động mình đã làm.
  5. Việc xấu – nghiệp ác, đốt cháy ngầm kẻ ngu thì cũng tương tự như vậy, việc tốt – nghiệp thiện, sẽ hỗ trợ ngầm người trí.
  6. Nói ngầm là vì ta chưa đủ tuệ giác để thấy, để chấp nhận, để chuyển hóa. Sự biểu hiện của nghiệp không phải chỉ thấy bằng giác quan mà bằng tâm trí, bằng tuệ.

 

Kết luận

 

  1. Bài kệ 71 chứng minh nghiệp cần có thời gian để tạo ra kết quả, dù thiện hay ác, tốt hay xấu. Vì thế, khi làm việc tốt đừng mong kết quả đẹp tới liền; lúc lở làm việc chưa tốt thì cũng nên tranh thủ sám hối, ăn năn, thay đổi.
  2. Bài kệ cũng minh chứng một tính chất của nghiệp. Đó là âm thầm theo ta, ngầm theo ta từ đời này sang đời khác. Do đó hãy tích cực làm lành vì trước sau gì ta cũng sẽ nhận quả ngọt. Đừng lo lắng khi cho đi. Đừng nuối tiếc khi mất mát.
  3. Uống sữa mỗi ngày, nướng khoai mỗi tháng, mong rằng mỗi lần uống sữa và nấu nướng bếp than hay lò điện, chúng ta hãy nhớ đến bài kệ 71 này để nhắc nhở mình siêng làm lành, tránh làm dữ.

“Nghiệp ác đã được làm,

Như sữa, không đông ngay,

Cháy ngầm theo kẻ ngu,

Như lửa tro che đậy.”

Nghiệp trong kinh Pháp Cú – BÀI HỌC SỐ 6: LIÊN HOA SẮC BỊ HẠI

Uppalavanà, đã lập nguyện với Phật Padumuttara, sau khi tạo công đức suốt một trăm ngàn kiếp từ loài trời đến loài người, mạng chung ở cõi trời vào thời Phật hiện tại, và tái sinh tại Xá-vệ là con gái một thương gia giàu có. Nước da cô như màu đài sen xanh nên có tên là Uppalavannà, tức Liên Hoa Sắc. Ðến tuổi cập kê, tất cả các vương tôn công tử nước Diêm-phù-đề đến cầu hôn. Ông thương gia không biết giải quyết cách nào bèn bảo con gái đi tu. Đây là kiếp chót của cô trước khi chứng Niết-bàn nên lời của ông cha, như dầu đã được tinh chế trăm năm, rưới lên đầu cô. Do đó cô bằng lòng. Ông chuẩn bị những món quà đắt giá cho cô, và dẫn cô đến Ni đoàn, cô được nhận.

Chẳng bao lâu, cô được giao việc mở và đóng Bồ-tát đường. Thắp đèn và quét dọn xong, cô chăm chú nhìn ngọn đèn, chú tâm vào yếu tố của lửa, nhập định. Xuất định, cô chứng A-la-hán và đắc thần thông.

Sau đó cô hành hương khất thực trong xứ, trở về cô phải qua một khu rừng rậm. Thời đó các ni cô không bị cấm ở trong rừng. Họ dựng cho cô căn lều, đặt một giường và treo màn chung quanh. Ra khỏi rừng, cô đến Xá-vệ khất thực rối trở về lều của mình. Lúc đó, một người Bà-la-môn bà con với cô tên Ananda, đã đem lòng yêu cô từ khi cô còn ở thế gian, nghe cô đi khất thực, liền vaò rừng trước cô, trốn dưới trong lều.

Trở về lều, đóng cửa lại, cô lên gường ngồi, không thấy gì trong tối vì cô mới ở ngoài sáng vào. Cô vừa mới lên giường thì tên trẻ tuổi từ dưới gầm chun ra và leo lên. Cô la: Ðồ điên! Chớ hại ta!

Nhưng tên kia, dù bị kháng cự, đã cưỡng bức cô, và bỏ đi. Không thể chịu nổi sự đồi bại của hắn, đất nứt ra nuốt hắn và hắn bị đọa vào địa ngục A-tỳ.

Cô kể cho các ni cô việc đã xảy ra. Các Tỳ-kheo nghe ni cô kể lại bạch với Phật, và được Phật dạy: Này các Tỳ-kheo! Kẻ ngu có thể là bất cứ ai, Tỳ-kheo hay Tỳ-kheo ni, cư sĩ nam hay nữ, phạm tội ác thấy vui thích, sung sướng hay khoái lạc khi phạm tội, như thể được ăn mật, đường hay vị ngọt nào khác. Và Phật đọc Pháp Cú:

69. “Người ngu nghĩ là ngọt,

Khi ác chưa chín muồi;

Ác nghiệp chín muồi rồi,

Người ngu chịu khổ đau.”

Sau đó các Tỳ-kheo bàn tán trong Pháp đường: Ngay cả người đã thoát khỏi dục lạc rồi vẫn ưa thích khoái lạc tình ái và thỏa mãn dục vọng. Tại sao không? Họ đâu phải là cây Kolàpa hay ụ kiến, mà là con người bằng xương bằng thịt.

Phật nghe bèn dạy rằng: Này các Tỳ-kheo! Người đã giải thoát khỏi dục vọng, không ưa thích khoái lạc tình ái cũng không thỏa mãn dục vọng. Như một giọt nước rơi xuống lá sen, không thấm vào lá, cũng không đọng trên lá, nhưng lăn đi và rơi xuống, như hạt cải không bám vào đầu mũi kim, cũng không ở lại đó, mà lăn đi và rơi xuống. Cũng vậy, tình yêu đôi lứa không vướng bận tim người đã giải thoát khỏi dục lạc thế gian.

Bấy giờ Phật mời vua Ba-tư-nặc đến bảo: Ðại vương, trong giáo đoàn của Ta, thanh nữ và thanh niên gia giáo rời bỏ quyến thuộc và tài sản, từ bỏ thế gian, vào ngụ trong rừng. Ðối với giới nữ trong rừng có thể có những người tâm địa xấu, bị lưả dục nung nấu, vô lễ và ngạo mạn với họ, cưỡng bức họ, làm uổng phí đời tu của họ. Như thế cần xây dựng chỗ cư trú cho Ni chúng trong thành. Vua tuân hành. Từ đó chư ni chỉ được ở trong thành.

Bài học từ câu chuyện

  1. Hồng nhan bạc phận, không phải hồng nhan bạc triệu, nhiều nỗi truân chuyên của người nữ tu. 16 tuổi lấy chồng, sau đó ly dị và đi bước nữa, chồng tư thông với mẹ, mẹ và con cùng chồng. Vẫn đệ nhất thần thông quý Sư Cô, chứng A la hán. Đừng than mình khổ, một số thầy cô còn có thân phận khổ hơn mình nhưng họ vượt qua được, chiến thắng được.
  2. Giàu, đẹp, và nhiều nỗi khổ nên đi tu. Đi tu rồi vẫn gặp những khó khăn và đã vượt qua. Chúng ta nay nghèo, xấu, và ít nỗi khổ nhưng vẫn chưa chịu tu. Có tu rồi nhưng vẫn gặp chút trở ngại là bỏ chạy.
  3. Hãy nghe đức Phật khẳng định người chứng A la hán rồi như giọt nước trên lá sen, như hạt cải trên đầu mũi kim, họ không ưa thích khoái lạc tình ái cũng không thỏa mãn dục vọng. Giải thoát là thoát khỏi vị ngọt của tình ái và dục vọng.
  4. Còn si mê thì còn vui, còn khoái, còn sung sướng và còn thấy hạnh phúc khi làm những hành động bất thiện, khi tạo ác nghiệp, bất thiện nghiệp, nghiệp dữ, dù kẻ đó là ai đi chăng nữa. Đó là khẳng định của đức Phật: Kẻ ngu có thể là bất cứ ai, Tỳ-kheo hay Tỳ-kheo ni, cư sĩ nam hay nữ, phạm tội ác thấy vui thích, sung sướng hay khoái lạc khi phạm tội, như thể được ăn mật, đường hay vị ngọt nào khác.
  5. Người ngu nghĩ là ngọt khi ác chưa chín muồi: người si mê, thiếu trí tuệ nghĩ rằng làm việc bất thiện là sướng, là vui, là tốt chẳng qua vì kết quả xấu của hành động ấy chưa đến mà thôi. Cho nên vấn đề phân biệt hành động tốt và hành động tốt không chứng minh mình là người trí hay kẻ ngu. Câu này cũng cho thấy chúng sanh ngu muội chỉ sợ quả không sợ nhân.
  6. Ác nghiệp chín muồi rồi, người ngu chịu khổ đau: khi kết quả phải đến đã đến thì lúc đó người ngu chịu quả báo đau khổ. Như vậy vấn đề đau khổ hay hạnh phúc liên quan mật thiết đến ngu si hay trí tuệ.
  7. Phân biệt được thế nào thiện, thế nào là ác là trí tuệ. Dũng cảm hành động theo thiện nghiệp bất chấp thị phi cuộc đời là trí tuệ. Thấy được vị ngọt và vị đắng của dục vọng là trí. Vượt qua được cám giỗ của vị ngọt của dục vọng là bậc trí tuệ.
  8. Chúng ta đã từng nhầm lẫn giữa ngọt và đắng chưa? Đã từng nghĩ là tốt, là vui, là hạnh phúc khi làm câu cá, bắn chim, giành giật áo quần tốt trước người khác chưa?

Kết luận

Câu pháp cú thứ 69 nhắc nhở chúng ta đừng nhầm lẫn giữa đắng và ngọt, giữa hành động tốt – thiện nghiệp, với hành động xấu – bất thiện nghiệp. Hãy nâng cao ý thức, thắp sáng ngọn đèn trí tuệ để phân biệt rõ thiện nghiệp ác nghiệp trong cuộc đời.

Hởi những người mẹ, người chị, người em phụ nữ hãy noi gương nàng Liên Hoa Sắc. Chắn chắn cuộc sống của quý lady đã có nhiều nỗi khổ nhưng có lẻ ít ai khổ như nàng. Nàng đã vượt qua và ta đây cũng nguyện siêng năng tu tập để vượt qua.

Cội nguồn của hạnh phúc là suy nghĩ đúng, đúng nguyên lý nhân quả nghiệp báo. Gốc rễ của khổ đau là tư tưởng sai lầm, sai lầm căn bản nơi đạo lý hành động và kết quả của hành động.

Nguyện cầu chúng ta nỗ lực về đây hằng tuần để vun bồi hạt giống phước đức và thắp sáng thêm ngọn đèn trí tuệ để cuộc sống bình an, tâm hồn thanh thản.

Nghiệp trong kinh Pháp Cú – BÀI HỌC SỐ 5 Sumana – Người Làm Vườn

Mỗi ngày sáng sớm, người làm vườn Sumana hay dâng lên vua Bình-sa vương tám bó hoa nhài và nhận tám đồng tiền mỗi bó. Nhưng hôm đó, trên đường mang hoa vào thành, anh thấy Ðức Phật đang khất thực với chúng Tỳ-kheo đông đảo, phóng hào quang sáu màu, đầy hùng lực của một vị Phật. Anh nhận thấy thân Phật như một khối ngọc quý, một khối vàng ròng, với ba mươi hai tướng tốt và tám mươi vẻ đẹp của bậc đại nhân. Lòng phân vân không biết làm sao phục vụ, chợt thấy bó hoa, liền muốn dâng cúng Phật. Tuy biết rằng nhà vua có thể cầm tù, giết hay trục xuất khỏi nước nếu không dâng hoa cho vua, anh vẫn muốn cúng cho Phật. Anh nghĩ tiếp nếu dâng hoa cho vua đi nữa, bất quá chỉ nhận tiền đủ kéo dài mạng sống trong kiếp này, trong khi dâng cúng Thế Tôn sẽ được an lạc, được cứu độ hằng triệu kiếp không kể xiết. Do đó, anh làm vườn dâng toàn bộ số hoa ấy cho Phật.

Niềm tin kiên cố và lòng hoan hỷ, anh ta tung hoa lên. Ban đầu hai bó lơ lửng trên đầu Phật như một bảo cái, hai bó tiếp bên phải, rồi phía sau, rồi bên trái, rủ xuống như một tấm màn. Như vậy tám bó hoa vây bọc Thế Tôn bốn phía, cuống hoa hướng ra ngoài và cánh hoa hướng vào trong, trước mặt Phật như có cổng chào, và chung quanh như những phiến bạc. Hoa tuy là loài vô tình, nhưng cư xử như có trí khôn, không dạt về một bên, không rơi xuống, đi theo khi Phật cử động, đứng yên khi Phật dừng lại. Hào quang tỏa ra hàng trăm tia từ thân Phật, trước và sau, phải và trái, và từ đỉnh đầu sáng rực. Không ai gặp Ngài mà bỏ đi. Họ nhiễu bên phải ba vòng quanh Ngài, tu hội đông như đám cây cọ chạy trước mặt Ngài. Cả thành náo động, chín mươi triệu dân bên trong với chín mươi triệu dân bên ngoài, không một người nào, dù đàn ông hay đàn bà không đến lễ với đồ cúng dường. Rống lên tiếng rống sư tử và vẫy lên hàng ngàn mảnh vải, đám đông khổng lồ đã diễn hành trước mặt Thế Tôn.

Anh ta kể chuyện cho vợ nghe. Vợ anh ta quá ngu si không tin sự mầu nhiệm như thế, tru tréo lên mắng nhiếc chồng: Vua chúa thì cay nghiệt và tàn bạo. Bị chọc giận thế nào cũng ra lệnh chặt tay, chặt chân hay xử hình phạt khác. Ông làm như thế thì bao nhiêu trừng phạt sẽ trút xuống cho tôi!

Rồi mang con đến hoàng cung, cô gặp vua kể lể việc làm của chồng, và tuyên bố cho cô biết là cô bỏ chồng.

Vua Bình-Sa vương là đệ tử của Phật. Ngay lần đầu gặp Phật vua đã chứng quả Dự lưu, niềm tin kiên cố và tâm an bình. Vua hiểu người này quá ngu si, làm sao có thể tin một việc làm công đức như thế và ông giả vờ giận dữ quát lên:

Mụ kia! Hắn đã dâng hoa của ta cho Thế Tôn à! Mụ bỏ hắn là phải. Ta sẽ xử sự với hắn. Dám cả gan dâng hoa của ta cho Thế Tôn. Nhờ nói thế, vua đuổi được cô ta về, rồi đến gặp Phật ngay, đảnh lễ Ngài và cùng đi. Phật biết tâm vua đang an bình, nên đi tiếp vào thành, kinh hành qua đường phố theo nhịp trống định âm, và dừng trước cổng hoàng cung. Vua đỡ bình bát và thỉnh Phật vào. Phật tỏ ý ngồi trên sân hoàng cung, vua liền ra lệnh dựng cấp tốc một lều che và Phật ngự giữa lều với chúng Tỳ-kheo chung quanh.

Sau khi Phật và đại chúng thọ trai xong, Vua tiễn Phật một đoạn đường rồi quay về gặp anh làm vườn. Hỏi thăm và được anh kể lại lời đã nói với Phật khi xưng tán Ngài rằng vua có thể giết hay đuổi anh ra khỏi nước, vua khen anh là một bậc đại nhân và thưởng tám voi, tám ngựa và tám gia nhân, tám nữ tỳ và tám bộ châu báu lộng lẫy, tám ngàn đồng tiền, tám cung nữ trong hậu cung trang điểm đầy đồ trang sức, và tám làng chọn lọc.

Trưởng lão A-nan nghe tiếng reo hò hân hoan suốt ngày từ sáng sớm, thắc mắc không biết anh làm vườn được phước báo gì, hỏi Phật và được Phật đáp:

Này A-nan! Hành động của người làm vườn không phải là việc nhỏ. Anh ta đã giao mang sống cho Ta và xưng tán Ta. Vì đặt niềm tin nơi Phật, anh ta sẽ không rơi vào đường khổ suốt trăm ngàn kiếp, mà còn được quả phúc ở cõi trời và cõi người, và sẽ thành vị Phật Ðộc Giác tên Sumana. Các Tỳ-kheo! Chỉ nên làm việc gì đừng ân hận về sau, mỗi khi nhớ lại chỉ thấy hoan hỷ. Và Phật nói Pháp Cú:

68. “Và nghiệp làm chánh thiện,

Làm rồi không ăn năn,

Hoan hỷ, ý đẹp lòng,

Hưởng thọ quả dị thục.”

 

Bài học từ câu chuyện anh làm vườn dâng hoa

  1. Dám lấy hoa của vua – miếng cơm manh áo hằng ngày của gia đình ông, mà cúng dường Phật. Thật thà kể lại cho vợ nghe việc thiện mình làm mà chưa xin phép trước. Chúng ta đã từng làm việc thiện bằng tất cả đồng lương một ngày của mình chưa? Có kể cho vợ chồng nghe việc thiện mình làm mà chưa xin phép trước không? Nếu có thì thái độ của vợ chồng như thế nào?
  2. Suy nghĩ của anh ta: cúng dường hoa cho Phật phước lành nhiều hơn cho vua. Can đảm, dũng cảm bố thí hoa, dù biết có thể bị tù, bị giết, bị đuổi ra khỏi nước. Mình cũng từng làm phước thiện, bố thí cúng dường nhưng có bao giờ nghĩ như anh ta không?
  3. Tâm tánh và hành động của người vợ: trách mắng, lo sợ, si mê, ly dị chồng vì sợ liên lụy. Khi người khác chia sẽ, tâm sự việc thiện họ làm chúng ta nên hoan hỷ, vui theo. Nếu chưa đủ khả năng hoan hỷ, vui theo thì cũng đừng phỉ báng, chê trách, chửi bới, thậm chí hành động quá đáng như người vợ Sumana.
  4. Câu chuyện người vợ âm thầm khuyên chồng hạn chế đi chùa và làm việc thiện vì tâm niệm nhỏ nhen và ích kỷ chỉ lo cho gia đình, con cháu mình.
  5. Cúng 8 bó hoa được quả báo hiện tiền: vua khen anh là một bậc đại nhân và thưởng tám voi, tám ngựa và tám gia nhân, tám nữ tỳ và tám bộ châu báu lộng lẫy, tám ngàn đồng tiền, tám cung nữ trong hậu cung trang điểm đầy đồ trang sức, và tám làng.

Vì đặt niềm tin nơi Phật, anh ta sẽ không rơi vào đường khổ suốt trăm ngàn kiếp, mà còn được quả phúc ở cõi trời và cõi người, và sẽ thành vị Phật Ðộc Giác tên Sumana.

  1. Lâu nay chúng ta cũng đã từng bố thí, cúng dường nhiều nhưng đã thấy được kết quả của hành động chánh thiện này không? Chắc chắn là nhận được rất nhiều song đôi lúc chúng ta chưa nhận ra đó thôi.

 

Kết luận

Chúng ta nguyện noi gương dũng cảm làm việc thiện của chàng thanh niên Sumana. Dù biết sẽ bị tù, giết, hoặc trục xuất ra khỏi nước nhưng vẫn dám làm cái việc mang hoa của vua cúng cho Phật.

Chúng ta cũng nguyện không làm những hành động dại dột như người vợ của chàng thanh niên này. Dù rằng chướng ngại chông gai trừng phạt có thể đổ lên đầu gia đình, nhưng hãy cùng nhau vượt qua. Đừng bao giờ cản trở người thân của mình làm việc thiện.

Nếu ta đã làm việc thiện rồi mà bị người khác chê trách, chửi mắng, dèm pha thì cũng nguyện không hối tiếc, không thay đổi, không biện bạch. Nguyện im lặng và chỉ im lặng mà thôi, từ bên ngoài và cả bên trong. Đó là ý nghĩa của câu pháp cú làm rồi không ăn năn, hoan hỷ ý đẹp lòng.

Mời đại chúng nhắm mắt lại và chúng ta cùng nhau đọc lại bài pháp cú thứ 68 này:

“Và nghiệp làm chánh thiện,

Làm rồi không ăn năn,

Hoan hỷ, ý đẹp lòng,

Hưởng thọ quả dị thục.”

« Older Entries