header image

All posts in October, 2013

TỔNG KẾT KHÓA TU CHUNG SỐNG HÒA HỢP NĂM 2013

Địa điểm: chùa Tam Bảo, thành phố Baton Rouge, tiểu bang Louisiana.

Thời gian: từ ngày 24 đến 27 tháng 10 năm 2013.

Thành phần tham dự: khoảng chư tôn đức Tăng Ni và Phật tử đến từ nhiều tiểu bang. Khóa tu có sự hiện diện của Hòa thượng Thích Nguyên Hạnh, thượng tọa Thích Thông Tạng, chư tăng thiền viện Đại Đăng, tăng thân Mộc Lan và một số tự viện tại Texas, Florida.

Năm nay chúng tôi chỉ tham dự hai ngày cuối cùng nên không thể tổng kết chi tiết toàn bộ khóa tu học. Những ghi nhận sau đây là nội dung thực tập và đàm luận trong hai ngày thứ bảy và chủ nhật.

Chương trình tu học ngày thứ bảy gồm, tỉnh tọa và tụng kinh buổi khuya bắt đầu lúc 6 giờ; 8 giờ ăn sáng; 9 giờ 30 phút ngồi yên và sám hối; 11 giờ thiền hành chung; 12 giờ ăn trưa; 2  đến 5 giờ chiều pháp đàm; 6 giờ ăn tối, 7 giờ 30 phút đến 9 giờ 30 phút thiền trà, 10 giờ chỉ tịnh.

Trong các ngày tu học, đại chúng đã có dịp tụng lại kinh bát đại nhân giác, kinh chánh kiến, kinh thương yêu, quán niệm về các vị đại bồ tát.

Buổi pháp đàm do chư Tăng thiền viện Đại Đăng, với các thầy Thông Tạng, Tuệ An, Tâm Chánh phụ trách về đề tài “Chân thật và ái ngữ”. Căn cứ trên bản kinh Từ bi, đại chúng đã cùng nhau chia sẻ nhiều ý kiến sau đây:

–        Thẳng thắn thường đi kèm với tâm sân hận. Cho nên  thẳng thắn phải là sự kết hợp giữa ái ngữ và khiêm tốn.

–        Hai loại lời nói trong kinh Phật dạy: nói như hoa như mật (nói đúng sự thật, nói với tâm xây dựng, nói cho đoàn kết, hàn gắn đổ vỡ); và nói như phân như rác (nói cho thỏa mãn sân hận, nói láo, nói sai sự thật, nói chia rẻ).

–        Thực tế cuộc sống: nhiều lúc nói đúng sự thật, nhưng vì chưa đúng lúc nên đem lại rắc rối, khổ đau.

–        Trước khi nói cần suy nghĩ những yếu tố sau: thời cơ đã chín muồi chưa, người kia có muốn nghe không, cách nói như thế nào cho thích hợp, và hãy nói bằng trái tim.

–        Ỷ ngữ là nói lấy lòng, nịnh nọt, khen quá đáng, thổi phồng khích lệ, châm chọc, móc méo. Đây là những kiểu nói mà người Phật tử nên tránh.

–        Cẩn trọng lỗ tai trước những người khéo nói, có tài diễn thuyết để khỏi lạc vào mê cung ngôn ngữ của họ.

–        Thực tệ rất nhiều lần chúng ta nghĩ một đàng nhưng nói ra một nẻo. Đó là dấu hiệu của nói chưa chân thật.

–        Nói để tạo ra tiếng cười, niềm vui cho người khác nếu với tâm bất thiện vẫn thuộc về ỷ ngữ.

–        Muốn dùng ái ngữ góp ý xây dựng người khác nên từ từ, nhiều khi phải lòng vòng, nói phù hợp với những gì mình làm.

–        Câu chuyện chặn đứng thị phi của nhà hiền triết: một người đến thưa chuyện, trước khi người ấy nói, vị hiền triết hỏi người ấy ba câu hỏi, nếu trả lời được mới cho phép nói. Ba câu hỏi là: câu chuyện có thật hay không, chuyện tốt hay chuyện xấu, tôi có giúp gì cho câu chuyện hay không.

–        Nỗi đau khi người mẹ gọi con mình bằng “mày, tao” khi nghĩ về ái ngữ trong gia đình.

–        Thương mà không biết cách thương làm là làm thương tổn người mình thương.

–        Ái ngữ là một công cụ, một phương tiện chuyển hóa, cảm phục người khác, là một nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ, một kỷ năng đem đến hòa hợp đoàn kết.

–        Làm sao nhận biết sự chưa chân thật trong những lời khen tiếng chê? Bình tầm quán chiếu, bình tỉnh lắng nghe, chăm chú ghi nhận.

–        Khen đúng là bạn, chê đúng là thầy, nịnh bợ vuốt ve là kẻ thù.

–        Chuyện chồng chuyện con khổ lắm! (các thầy cô đi tu lưu ý kỹ câu này!)

–        Đúc kết: ái ngữ và chân thật có mặt trong nhau; nói chân thật để bồi dưỡng tình thương; tâm nghĩ thế nào, miệng nói thế ấy; thực tập chánh niệm khi nói ái ngữ; hãy thực tập cho mình trước; nói đúng thời đúng lúc đúng căn cơ.

Trong buổi thiền trà, đại chúng đã nghe những lời chia sẻ tâm sự sau 4 ngày tu học. Ai cũng nhận được lợi ích khi về đây sống chung với nhau trong không khí hòa hợp, yêu thương. Đặc biệt một số người bạn Mỹ cũng tỏ lời cảm ơn ban tổ chức. Họ nói rằng ngôi chùa này là ngôi nhà thứ hai của họ.

Một bác lớn tuổi tỏ ra xúc động mạnh khi kể lại niềm hạnh phúc được tham dự khóa tu. Bác mong tiếp tục sống để tham dự lần tiếp theo. Không biết những người trẻ khi nghe bác này nói vậy có suy nghĩ gì không?

Thầy Chánh Trí đã tỏ lời xin lỗi khi vì chỉ tham dự hai ngày cuối, thầy đã phạm nội quy nói chuyện nhiều với Phật tử và khiến họ cười to nữa. Thầy cũng đề nghị nên có buổi Phật pháp vấn đáp và thầy xung phong tham gia ban giải đáp câu hỏi với vai trò người điều phối chương trình.

Dĩ nhiên là đại chúng nghe rất nhiều bài ca tiếng hát suốt đêm thiền trà. Ngọt ngào cũng có, cao vút cũng có, trầm lắng cũng có, buồn, vui, gì cũng có. Nổi bật là bài hát Một cõi đi về của cô Phật tử dẫn chồng mù về tu học, tiếng sáo của thầy Pháp Nhã, bài Đuôi con gà của một sư cô khiến đại chúng cười nghiêng ngã. Thầy Đạo Quảng lần này không hát. Thầy Thông Tạng ban huấn từ nhắc nhở đại chúng bớt nói chuyện riêng để dành thời gian thực tập.

Vào ngày chủ nhật, chương trình có chút thay đổi vì đây là ngày sinh hoạt hằng tuần của chùa Tam Bảo. Số lượng Phật tử về tham dự đông hơn.

Vào thời kinh lúc 9 giờ 30 sáng, đại chúng, sau khi ngồi yên 30 phút, đã cùng nhau đảnh lễ danh hiệu 35 đức Phật do thầy Chánh Trí xướng lễ. Sau đó đại chúng lắng nghe những lời quán chiếu về các vị đại Bồ Tát.

Trong thời kinh buổi trưa, thượng tọa Thích Thông Tạng đã ban những lời khuyên đến Tăng Ni và Phật tử. Thầy nhắc đến tâm bồ đề thượng cầu Phật đạo hạ hóa chúng sanh của những người xuất gia. Thầy nói rằng tu tập trong môi trường tu viện là bước đầu trang bị những đức tính cần thiết để sau đó hạ sơn hoằng hóa trong nhân gian. Thầy lưu ý Tăng Ni cẩn trọng để đừng đánh mất mình khi làm Phật sự trong thế gian vốn nhiều cám dỗ lôi cuốn. Nếu nội tâm vẫn còn tham danh tham tiền thì Phật sự trở thành ma sự.

Tiếp theo, thầy Đạo Quảng thay mặt toàn thể Phật tử chùa Tam Bảo dâng lời cản ơn lên chư tôn đức Tăng Ni, đã về đây tham gia và hướng dẫn đại chúng tu học. Thầy cũng tóm tắt quá trình tu học những ngày qua và khuyến khích nam nữ cư sĩ Phật tử phát tâm tham gia tu học mở mang chánh kiến.

Buổi chiều, lúc 2 giờ 30 buổi pháp đàm cuối cùng của khóa tu với đề tài “Dung hòa sự khác biệt”. Thầy Đạo Quảng cũng trả lời một câu hỏi khá dài do một Phật tử ghi câu hỏi trên giấy. Nội dung câu hỏi là có nên góp ý xây dựng những tri kiến sai lầm của bạn đồng tu không? Sau khi góp ý thì họ vẫn không thay đổi và càng sân si hơn thì phải làm sao? Thầy nói, suy nghĩ lại thật kỹ đó có thật là những tri kiến sai lầm không, mình có tri kiến sai lầm không khi nhận xét người khác có tri kiến sai lầm, nên góp ý hợp thời cơ, đúng trình căn cơ.

Tiếp theo thầy Chánh Trí trình bày phần mở đầu và phần nội dung của đề tài như sau:

  1. MỞ ĐẦU

–        Thế giới vốn khác biệt từ khi ta mở mắt chào đời cho đến lúc ta xuôi tay nhắm mắt. Sự thật không thể phủ nhận là không ai giống ai, từ bên ngoài ăn mặc đến bên trong tính tình; từ hành động tay chân đến chiều hướng tư tưởng.

–        Chúng ta đang sống trong một đất nước, Hoa Kỳ, nơi tập trung rất nhiều sự khác biệt từ ngôn ngữ, văn hóa, ẩm thực đến tư tưởng tôn giáo chính trị. Chúng ta cũng đang đối diện với những sự tương phản đến từ những thành viên trong gia đình, từ mỗi Phật tử đến chùa tu tập và từ từng truyền thống thực tập đạo Phật.

–        Làm sao sống giữa những khác biệt như thế mà vẫn đem lại an vui hạnh phúc? Làm thế nào để tất cả những khác biệt mà chúng ta đã và đang nhìn thấy từ đạo Phật sẽ trở thành một thế mạnh của tôn giáo này trong tương lai?

–        Đề tài Dung hòa sự khác biệt sẽ trang bị cho chúng ta những tư tưởng và hành động cụ thể để giải đáp những thắc mắc trên.

  1. NỘI DUNG
  2. ĐỊNH NGHĨA ĐỀ TÀI

–        Khác biệt: những đặc điểm không giống nhau giữa mỗi người, mỗi pháp môn tu học, mỗi truyền thống thực tập, mỗi ngôi chùa, đạo tràng tu học. Sự khác biệt chính là những sắc thái biểu hiện đa dạng và phong phú của con người. Khác biệt ở đây không có nghĩa là mâu thuẫn nhau, chống đối nhau, như nước với lửa. Khác biệt ở chỗ gọi là phương tiện, những chi tiết nhỏ, cành lá.

–        Dung hòa: nghĩa là kết hợp hài hòa; hòa thuận và hỗ trợ, tương trợ lẫn nhau; hòa hợp để thành tựu mục đích chung; vượt qua những khác biệt nhỏ để kết thành thế mạnh lớn. Dung hòa như nước với sữa.

–        Dung hòa sự khác biệt: kết hợp hài hòa để sống và hỗ trợ nhau tu học trong bối cảnh của những sự khác biệt vô cùng đa dạng và phong phú. Nó còn có nghĩa là sống không xung đột từ trong tư tưởng đến ngoài hành động đối với những sự khác biệt đến từ tính tình, thói quen, trình độ, sở thích, ước muốn v.v.

–        Dung hòa sự khác biệt được nhấn mạnh đến sự hỗ trợ nhau giữa những pháp môn tu trong đạo Phật. Nó nhắm đến sự gắn kết những người thực tập các pháp tu khác nhau thành một tập thể thực tập phật pháp vững mạnh.

  1. GIỚI HẠN CỦA ĐỀ TÀI

–        Đề tại được giới hạn trong bốn lĩnh vực sau đây:

  1. Trong nội bộ đạo Phật: không xung đột giữa những pháp môn tu, tránh xa thái độ mình theo truyền thống này thì chê truyền thống khác, theo vị thầy này thì khinh thường vị thầy khác.
  2. Trong ngôi chùa, tự viện, đạo tràng tu học: giải quyết những xung phát sinh giữa thế lớn tuổi và trẻ tuổi; mỗi chùa tụng kinh mỗi kiểu, sinh hoạt mỗi cách riêng.
  3. Trong gia đình mỗi Phật tử: dung hòa ý kiến của giữa vợ chồng, con cái, làm sao để không chống đối nhau giữa hai nền văn hóa tư tưởng á đông và tây phương.
  4. Trong chính thân tâm mỗi người: quyết định hôm nay là sao cho phù hợp với việc làm ngày mai; ước muốn thì cao siêu nhưng hành động thì liều mạng, phiêu phiêu thì liệu có thống nhất không, tay quơ ngũ dục tay quơ niết bàn thì làm sao dung hòa đây?
  5. MỤC ĐÍCH ĐỀ TÀI

–        Xây dựng sự đoàn kết trong nội bộ đạo Phật Việt Nam, đạo Phật Hoa Kỳ để phát triển cho tương lai con cháu chúng ta.

–        Thiết lập gia đình, ngôi chùa tự viện hòa hợp, thống nhất.

–        Xóa tan những ngộ nhận sai lầm, những ý tưởng và hành động chia rẽ, phân tán, mâu thuẫn, bất mãn ngay trong tâm trí mỗi người, mỗi gia đình, mỗi tập thể.

–        Để mỗi cá nhân tiến bộ hơn trên con đường thực tập Phật pháp, đời sống an lạc, bao dung vị tha hơn.

  1. PHƯƠNG PHÁP DUNG HÒA SỰ KHÁC BIỆT

–        Nhận thức những sự khác biệt. Chúng ta phải nhìn rõ những khác biệt đã và đang có trong gia đình mình, trong tập thể mình. Những khác biệt ấy có phải là thế mạnh của mình không? Những khác biệt ấy có khiến mình xung đột, tranh đấu và chống đối với người khác, tập thể khác không?

–        Ý thức lợi ích chung. Hiểu rõ mục đích chung của gia đình là gì để bỏ qua những tranh chấp khác biệt nhỏ bé. Đề cao lý tưởng chung để hỗ trợ và giúp đở nhau vượt qua những thị phi chia rẽ.

–        Áp dụng giáo lý lục hòa (thân, khẩu, ý, giới, lợi, kiến) và tứ nhiếp pháp (bố thí, ái ngữ, lợi hành, đồng sự) để cụ thể hóa tuyệt đối tinh thần hòa hợp và đoàn kết.

–        Thể hiện những đức tánh sau đây:

  1. Cởi mở: luôn đem tâm học hỏi cầu tiến bộ, sẳn sàng tiếp nhận cái mới, điều hay lẻ phải để thích ứng với môi trường. Đặc biệt sẳn sàng hỗ trợ giúp đở người khác, đoàn thể khác trong tinh thần xả kỷ vị tha.
  2. Buông xả: không bao giờ quan niệm rằng những điều mình biết, mình thực tập là nhất, là ngon, là luôn luôn đúng (giải thoát tri kiến). vượt qua những thành kiến, định kiến mà mình bị huân tập từ thầy mình, từ môi trường mình sinh ra và lớn lên.
  3. Nhường nhịn: mỗi người nhường một bước mới hòa được, chịu đựng những tương phản nhỏ bé để tạo thành sức mạnh chung to lớn.
  4. Bao dung: thông cảm cho lỗi lầm, khuyết điểm người khác, không ghi trong lòng những khuyết điểm người khác, ý thức tha thứ và luôn suy nghĩ tích cực về người khác.
  5. Khiêm tốn: tuyệt đối loại bỏ tư tưởng ta là nhất, là riêng, thầy ta là nhất, là riêng, chùa ta là to nhất, đông nhất. Thường xuyên học hạnh lắng nghe, thấu hiểu để nhiếp hóa người khác.
  6. Thân thiện: đây là chất keo kết nối những người bạn tốt đến với mình, thậm chí những người thù địch cố chấp về với mình. Vui vẻ, biết lắng nghe, hòa đồng, nhiệt tình trong công việc, hăng say trong tu tập. Ai cần thanh niên có, chỗ nào khó có thanh niên.
  7. LUẬN ĐIỂM THẢO LUẬN

Sau đây là một vài câu hỏi đưa chúng ta trực tiếp vào nội dung đề tài và quán chiếu bản thân:

  1. Ta có bao nhiêu điểm tương đồng, điểm chung với người khác? Mục đích tu hành của tu viện mình có giống với những tu viện khác không?
  2. Có khi nào ta vì sự khác biệt nhỏ mà làm tổn hại lợi ích lớn chưa? Ví dụ cụ thể.
  3. Làm sao dung hòa hai pháp môn thiền và tịnh trong một đạo tràng tu học?
  4. Dung hòa những khác biệt từ các pháp môn có làm Phật giáo trở nên tẻ nhạt, không thể đáp ứng với nhiều căn cơ trình độ người tu không?
  5. Dung hòa những quan điểm khác nhau giữa cha mẹ và con cái bằng cách cụ thể nào?
  6. Đâu là thế mạnh của sự khác biệt? Đâu là thế mạnh của sự dung hòa?
  7. Có phải khi tôi và cái của tôi càng lớn mạnh thì sự khác biệt càng biểu hiện rõ hay không?

Sau đó đại chúng bắt đầu thảo luận đề tài với nhiều ý kiến và câu hỏi lý thú. Dưới đây là những tóm tắt những ý chính thảo luận trong đề tài này:

–        Những khác biệt mà chúng ta có chỉ là trên hình thức mà thôi.

–        Khó dùng hòa vì mình bắt người khác giống mình, theo mình, như mình. Thật vô lý.

–        Chấp trước vào cái tôi và cái của tôi là rào cản lớn nhất của sự dung hòa. Vì chấp vào cái tôi ấy mà sống khổ nhiều mà chết không siêu.

–        Không nên đem ra so sánh để dung hòa những sự khác biệt.

–        Cho người khác không gian và thời gian để dung hòa những người xấu, với điều kiện mình đủ nội lực chuyển hóa họ.

–        Dung hòa không có nghĩa là gạt bỏ đối tượng chưa tốt.

–        Hãy nhìn lại mình nhiều hơn nữa, tìm hiểu những nguyên nhân khác biệt và kiên nhẫn.

–        Ta không thể tha thứ lỗi lầm của người khác vì lỗi lầm ấy quá lớn hay tấm lòng ta quá nhỏ bé?

–        Đừng đặt tâm khen chê vào công việc để tránh gặp phải những áp lực khi thành công hay thất bại.

–        Sử dụng ngôn ngữ không đụng chạm đôi bên để tạo ra không khí tu tập chung. Ví dụ thay vì nói ngồi thiền thì nói ngồi tỉnh tâm, ngồi yên để không làm người tu tịnh độ khó chịu.

–        Văn hóa Mỹ dạy những người lãnh đạo học kỷ năng dung hòa khác biệt trong tổ chức để tạo nên sức mạnh tập thể. Chư Tăng Ni cần học những kỹ năng ấy để hướng dẫn các đạo tràng tu học.

–        Vì thiếu thực tập nên khó dung hòa. Bởi chưa yêu thương nên còn khác biệt. Do thiếu hiểu biết nên chia rẻ nhau ra.

Sau cùng, thầy Đạo Quảng đúc kết buổi thảo luận và cả khóa tu. Thầy lây ví dụ một cái cây để học bài học dung hòa. Mỗi cành lá hoa trái đều làm một chức vụ riêng nhưng luôn hỗ trợ cây ấy lớn mạnh trước phong ba bão táp. Mọi người cần chấp nhận sự khác biệt từ cá tính đến văn hóa. Cần nhắm đến cái hay cái đẹp chung để vượt qua những bất đồng riêng lẻ. Mọi vấn đề xảy ra đều vì mình thiếu tu, thiếu thực tập, thiếu trí tuệ, thiếu từ bi.

Thầy cũng đứng ra nhận những trách nhiệm của toàn bộ khóa tu. Thành công là thành công chung của đại chúng. Thất bại nếu có thì xin đại chúng cảm thông chia sẻ và chung tay xây dựng cho lần sau tốt đẹp hơn. Hẹn gặp lại năm sau.

Và đây là kết luận của thầy Chánh Trí:

  1. KẾT LUẬN

–        Trong kinh Thập thiện đức Phật chỉ rõ rằng nguyên nhân tất cả những sự khác biệt của chúng sanh trong thế giới là do tâm chúng sanh không giống nhau.

–        Chúng ta hãy xoay cái tâm khác nhau ấy về một mục đích chung duy nhất: tu học và phụng sự Tam Bảo.

–        Sự khác biệt cần thiết cho cuộc đời bao nhiều thì sự dung hòa càng cần thiết để cuộc đời ấy đoàn kết, bình an, tiến bộ bấy nhiêu.

–        Hãy cố gắng nhìn ra những khác biệt ngay trong chính con tim mình và nỗ lực dung hòa những khác biệt ấy về một điểm chung mà thôi.

–        Phật giáo muốn vững mạnh, những người con Phật phải đoàn kết. Những người con Phật muốn đoàn kết, ngay trong tư tưởng họ phải dung hòa, chấp nhận và hỗ trợ những sự khác biệt đến từ các pháp môn tu tập.

 

Một số cảm nhận cuối cùng…..

Nhìn chung, năm nay khóa tu “Sống chung hòa hợp” thành công trên mặt nội dung. Với những đề tài thực tế và cụ thể, đại chúng đã cùng nhau thảo luận và đi đến sự thống nhất rằng: Khóa tu học là cơ hội để thực tập chánh niệm, vun bồi thêm hiểu biết và yêu thương. Chỉ có thực tập theo lời Phật dạy mới có thể xây dựng hạnh phục cho mình cho người.

Tuy số lượng người tham dự khóa tu có giảm song những gương mặt mới xuất hiện khá nhiều. Đặc biệt năm nay thời tiết thuận lợi, thức ăn dồi dào và hương vị cực kỳ ngon. Những điều này góp phần tạo nên những khoảng khắc tuyệt vời thưởng thức niềm hạnh phúc an vui khi đại chúng có mặt bên nhau và cùng tu với nhau.

Sự chia sẻ kiến thức kinh nghiệm vẫn chủ yếu đến từ chư Tôn đức Tăng Ni. Dường như một số lớn Phật tử tại gia vẫn trung thành với việc đến chùa chỉ để nghe thầy cô giảng. Tuy nhiên, các vị xuất gia rất muốn được nghe những tâm tư nguyện vọng và cách thực tập trong đời sống của các vị cư sĩ để mở mang kiến thức, tăng thêm kinh nghiệm và học hỏi nhiều hơn. Phải chăng cái tâm lý ngại ngùng, sợ bị cười, sợ nói sai hoặc do tôn kính quý thầy cô quá mà quý vị cư sĩ chưa phát huy hết tài năng nghị luận của mình? Mong rằng năm sau, tiếng nói của cư sĩ nhiều hơn trong những thời pháp đàm pháp học.

Lời cuối và cũng là lời đầu, chân thành đảnh lễ cảm ơn toàn thể chư tôn đức và quý Phật tử gần xa đã về tham dự khóa tu. Xin ghi nhận nơi đây lời cảm ơn sâu sắc đến thượng tọa trụ trì chùa Tam Bảo, chư Tăng Ni trong bổn tự và toàn thể Phật tử chùa Tam Bảo. Nói như lời thầy Bích Không, “năm tới không đợi mời, tôi quyết tâm về tham dự tu học”. Nguyện cầu ai xem bài này cũng nói và làm được như thầy Bích Không: năm tới tham gia khóa tu học.

 

Viết tại sân bay New Orlean nhân lúc bị trể chuyến bay

Oct, 28 2013

Thanh Hoang

 

MỘT LẦN ĐI, VẠN NỖI NIỀM

 

 

Tự mình kiểm điểm mình,

Tự mình xem xét mình,

Tự phòng hộ, chánh niệm,

Tỳ Kheo sống khương ninh.”

Pháp cú 379.

 

Bất cứ ai ý thức tự kiểm điểm, tự xem xét, tự phòng hộ, và chánh niệm đều sống hạnh phúc, không riêng gì vị Tỳ Kheo. Biết và hiểu như thế nhưng chúng ta chưa thực tập thường xuyên. Đó là lý do khiến chính ta khổ não. Đó cũng là lý do khiến chúng ta làm người khác, những người khác, đau đớn. Sau một chuyến đi hoằng pháp, thật nhiều nỗi niềm dâng trào từ đáy tâm hồn tôi. Mong rằng, ai có tâm phụng sự, ai có lòng hộ đạo, ai có mắt chánh kiến cũng ít nhiều đồng cảm với những nỗi niềm rất thật sau đây.

Nói thế không có nghĩa tôi tự đề cao mình là kẻ nhiệt tâm phụng sự, hết lòng hộ đạo, lúc nào cũng có cái nhìn đúng đắn. Con Phật ai mà tự phụ như thế. Ít ra những phẩm chất đó, tôi đã ý thức được và làm được, dù rất nhỏ bé. Tuy nhỏ bé nhưng đủ năng lượng nhìn thấy ai đang lầm đường lạc lối, những ai đang phá hoại niềm tin chân chánh, ai đang như pháp hộ trì Tam Bảo. Những đức tính đó không phải là điều Phật tử cần un đúc, phát huy và khuyến khích người khác nuôi dưỡng hay sao? Đồng cảm để biết rằng rất nhiều người trong chúng ta có cùng ước mơ, đồng một lý tưởng và đang đi trên một đường, một hướng. Đồng cảm để chúng ta kiên cố niềm tin, vững chãi ý chí và nhẫn nại vươn lên, dù gặp nhiều chướng ngại chông gai. Con đường nào mà không chông gai, huống chi con đường làm việc Phật và hoàn thiện phước trí?

Một lần đi, và hầu như nhiều lần đi, tôi thương Phật tử tại gia. Tình thương ấy như cha thương con, thầy thương trò, ông thương cháu, anh thương em, bạn thương bè. Thương vì tôi cảm nhận rõ ràng rằng: để có thời gian đi chùa, người cư sĩ phải hy sinh rất nhiều điều. Ở Hoa Kỳ, sự hy sinh ấy càng lớn hơn, nhiều hơn và rộng hơn: dồn nén thời gian, tranh thủ công việc, tận dụng phương tiện, chạy đua với tuổi tác, đấu tranh với chính mình. Muốn đi chùa cần có sự đồng ý của con, ai thông cảm được? Thích dự khóa tu phải thức khuya dậy sớm chăm chút từng ngọn rau hạt gạo, ai hiểu cho đây? Ấy thế mà, đâu phải lúc nào phục vụ Tam Bảo cũng suôn sẻ và vui vẻ. Niềm vui nào khiến họ chịu thương chịu khó như vậy?

Thương vì thấy họ rất khát khao được nghe và hiểu giáo lý Phật dạy. Làm sao để áp dụng lời dạy của đức Thế Tôn cách đây hai mươi lăm thế kỷ vào đời sống hiện tại, đó là thao thức của họ, ước muốn của họ. Phần đông trong số họ chưa cần biết nhiều đạo lý cao xa như Không tánh, Phật tánh, Chân như, Niết bàn. Họ chỉ cần hiểu thế nào là tội phước, thiện – ác, lợi – hại, đúng – sai, tốt – xấu. Họ đang vật lộn trong đời sống trần thế nên họ chưa thể hiểu cảnh giới chân đế, thắng nghĩa đế. Hãy truyền trao cho họ những gì gần gũi với cuộc sống bằng chính sự hiểu biết và hành động của mình. Hãy hướng họ đến chánh tín, chánh kiến. Hãy khuyên khích họ tu thân hành thiện. Họ cần vỗ về an ủi. Họ thích vui hưởng gia đình tâm linh. Họ muốn tu mau kẻo trể. Bởi vậy họ mới nói “chúng con cần một vị Thầy”. Ôi ước muốn giản dị làm sao! Ôi tâm nguyện tha thiết làm sao!

Thương vì tôi thấy tâm nguyện và niềm tin của họ đôi khi đặt sai đối tượng. Lòng nhiệt tình hộ đạo của họ bị một số cá nhân dập tắt. Khi so sánh lý thuyết và thực tế, dù rất tương đối, họ thất vọng người cha lãnh đạo tinh thần của mình. Họ cố gắng tin, cảm thông và hiểu, nhưng vẫn không có kết quả. Họ có quyền yêu cầu, có quyền đòi hỏi vì họ là những người con. Mà họ có yêu cầu gì to lớn đâu. Họ chỉ mong mỏi quý Thầy quý Cô trau dồi tri thức. Họ ước muốn chốn già lam nhang đỏ cỏ sạch. Họ trông ngóng những bài pháp sống động, ngắn gọn mà bổ ích. Họ đợi chờ hình bóng oai nghi và hành động gương mẫu. Thế nhưng tình hình hiện tại vẫn chưa có nhiều tu sĩ đáp ứng tấm lòng và niềm tin của Phật tử tại gia.

Thương vì qua tiếp xúc, tôi phát hiện trong con người họ còn nhiều trách nhiệm, nghĩa vụ nên gặp không ít vướng mắc. Dù sao người xuất gia bao giờ cũng nhẹ  nhàng hơn họ trong phương diện này. Họ ít có thời gian học hỏi giáo lý và gạn lọc tâm tư. Dường như thời gian tu hành đối với phần đông trong số họ là mỗi tuần tụng kinh, lễ Phật tại chùa mà thôi. Công việc và gia đình đã chiếm hết phần lớn tâm thức họ. Thế nên, bức thành cố chấp của họ cao và dày. Tấm lòng tùy hỷ của họ mỏng và chưa sâu. Trình độ tu tập trong số họ cũng có thấp có cao. Người biết dung thông thì ít mà kẻ cố chấp lý sự thì nhiều. Điều đó tôi hiểu, cảm thông một cách tự nhiên. Họ như những người con ngỗ nghịch, nhiều tính nết khác nhau trong cùng một gia đình. Cha mẹ tốt nào cũng hiểu và thương sự ngỗ nghịch ấy của con. Phải hiểu để uốn nắn tính tình cho con. Phải thương mới dạy dỗ và thuần phục được con. Do đó, hởi những người cha, người anh, người thầy, hãy rũ lòng thương và nhìn xuống đồng cảm và chia những khó khăn của họ.

Nhìn người mà ngẫm lại ta. Thương họ bao nhiêu, tôi lại buồn và lo cho chính mình bấy nhiêu. Một vài bậc tiền bối đã gây nhiều đỗ vỡ trong trái tim họ. Tôi phải có trách nhiệm dựng lại những niềm tin đã sứt mẻ, những nhiệt tình đã đỗ nát, những thiện tâm đốt cháy. Tôi phải có nghĩa vụ vun xới những lý tưởng đã chai sạn, những hành động đã ù lỳ. Nghe họ tâm sự việc tu tập cá nhân mà tôi tự thấy hổ thẹn trong lòng. Ai không xót xa khi người ta phản ánh một cách chân thật những mặt trái của huynh đệ mình? Người em nào không xấu hổ khi anh mình làm những điều lầm lỗi mà vẫn cố tình tái phạm? Ai không đau buồn khi đồng môn của mình lại có những hành động bất xứng? Người nào nỡ vô cảm khi thấy đoàn thể chúng Trung Tôn bất hòa, xung khắc? Chúng ta là những người đang tu tập nên không tránh khỏi lỗi lầm vụng dại. Nhưng khi được nhắc nhở, xin hãy lưu ý để tự kiểm điểm, tự phê phán. Đừng tự cao tự mãn với những danh xưng phù du huyễn mộng: Thầy, Thượng tọa, Hòa thượng, Trụ trì. Hãy biết khiêm tốn, biết hổ thẹn, biết tàm quý để tiến bộ tâm linh. May thay, người xuất gia mẫu mực vẫn còn hiện hữu đây đó. Quý Ngài đã phần nào giúp vơi bớt những nỗi buồn nặng trĩu trong mắt quần chúng Phật tử.

Đi ra và trở về, bỗng nhiên tôi lo. Liệu tôi có đủ năng lực hướng dẫn họ không? Nội công chưa thâm hậu mà toan hạ sơn du hóa. Thật điên rồ. Tôi đâu có thích xuống núi du hóa. Ước mơ tu hành của tôi há chỉ dừng lại nơi một ngôi chùa với những chức vị và danh xưng trống rỗng thôi sao? Tôi ý thức rõ tôi còn nhiều giới hạn về tri thức, trí tuệ, về đạo hạnh và kinh nghiệm tu trì. Ấy thế mà, cái giới hạn ấy vẫn có rất nhiều người cần tôi chia sẻ. Thật kỳ lạ. Xứ mù thằng chột làm vua. Nực cười thay thằng chột mà được làm vua! Sức mọn của tôi có thể dựng lại những gì đã ngã đổ không? Tài hèn của tôi có thể vun xới những gì đã chai sạn không? Tôi có biết lượng sức mình không? Tôi biết, vì biết nên không thể làm ngơ. Tôi hiểu, bởi hiểu nên phải cố gắng trau dồi bản thân hơn nữa. Đó là lý do khiến tôi tin tưởng lạc quan hơn với tất cả khả năng khiêm tốn của mình. Và, sự lạc quan ấy dường như được tiếp thêm năng lượng khi điều tôi tin tưởng và theo đuổi phù hợp với những ưu tư đối với đạo Phật hiện nay của một số Phật tử thuần thành.

Tôi nghĩ rằng muốn phát triển tại Hoa Kỳ, Phật giáo phải hội nhập vào văn hóa và đời sống con người ở đây. Đạo Phật không chỉ đáp ứng đời sống tâm linh cho người già mà phải chú ý đến sự giáo dục tâm tánh thế hệ trẻ. Phật giáo không chỉ dành cho người bình dân mà phải tạo thế đứng trong lòng người trí thức. Nghi lễ Phật giáo cần duy trì nhưng phải có những biểu hiện tiếp tiến để phù hợp với không gian, môi trường xã hội mới. Một số quan niệm của Phật giáo truyền thống Đông phương sẽ dần dần bị thay đổi khi nó hòa nhập vào mảnh đất Tây phương. Trong tình hình đó, người tu sĩ cần phải tiếp cận tri thức văn hóa văn minh phương Tây. Họ phải nói, viết và nghe tiếng Anh lưu loát. Họ phải thu thập và trải nghiệm văn hóa, văn học và văn minh xứ này. Hai ba mươi năm nữa, đạo Phật mang hình bóng Việt Nam sẽ khoác bức xiêm y Hoa Kỳ. Dù là muốn hay không, chúng ta phải thúc đẩy tiến trình hội nhập nếu không muốn tôn giáo này tàn rụi. Trong tình hình đó, trách nhiệm của người xuất gia không nhẹ nhàng chút nào. Họ cần học nhiều hơn nữa mới hiểu đời sống mới. Họ cần phải hành nhiều hơn nữa để giữ gìn văn hóa Phật giáo Việt Nam. Giống như mọi người, chư vị Tăng Ni cần nỗ lực nhiều, rất nhiều, mới có thể đạt được những yêu cầu trên. Và, tất nhiên sự hỗ trợ nhiệt tình của nam nữ cư sĩ là yếu tố gần như quyết định sự thành đạt đó.

Sau một chuyến đi, tôi hiểu người cũ hơn người mới. Chuyện có gì lạ không các bạn? Tha hương mới thấy quê nhà yêu dấu. Xa mẹ mới cảm thương mẹ già hơn. Người cũ là ai? Đó là những người tôi sống với họ chung một mái nhà, ăn cơm chung một nồi, cùng một lý tưởng, khoác một chiếc áo giống nhau. Ai thương yêu lo lắng, ai quan tâm giúp đỡ, tôi cảm niệm tri ân. Tri ân để tiếp tục sống đẹp hầu đền đáp tình người nồng ấm của họ. Ai đa nghi đố kỵ, ai người ganh ghét oán thù, tôi càng phải ghi nhớ công ơn. Ghi nhớ để tự quán xét thân tâm, sám hối lỗi lầm, sửa đổi bản thân. Mình đã làm gì khiến người xung quanh không vừa lòng. Họ có ơn đóng vai phản diện, nghịch hạnh Bồ tát, giúp ta phân biệt chính tà. Cũng y như thế, sau một lần đi, những thông tin cũ tôi bị nhồi sọ, cần phải đính chính. Tin tức sống động mà mình mới tiếp xúc đã xô ngã bức thành chủ quan do người ta loan truyền, đồn đại. Thực tế cuộc sống vô cùng rộng lớn đã làm thay đổi quan niệm nhỏ hẹp của chúng ta. Vì thế, chúng ta nên biết buông xả cố chấp và loại trừ thành kiến, dẫu biết rằng việc đó không hề dễ dàng. Hãy lắng nghe nhau, có mặt cho nhau.

Khi đi cũng như lúc về, tôi lắng nghe những điều đã nói đang nói và, đặc biệt, những điều chưa, hoặc không nói. Điều không nói mà ta vẫn hiểu mới thật thú vị. Tuy nhiên, có thể họ không nói bằng lời, chưa nói bằng miệng nhưng đôi khi họ đã nói bằng tay chân, qua ánh mắt, bằng nét mặt. Ai dám bảo rằng bước chân đi thình thịch không mang lại một thông điệp gì. Ai chẳng chạnh lòng khi chạm phải ánh mắt của những trẻ em mồ côi đói khát. Thế mới biết, hiểu và thương đâu chỉ qua một cửa ngỏ âm thanh. Thân và thù đâu chỉ giới hạn bằng vài ba cử chỉ. Nhờ nghệ thuật lắng nghe ấy, tôi cảm thông những ưu tư của Phật tử tại gia và đồng cảm với những khó khăn, trăn trở của các vị xuất gia. Tất cả những nỗi niềm của chúng ta nếu không nỗ lực lắng nghe theo cách này, sẽ không có cách hóa giải. Ai cũng đưa ra yêu cầu, ai cũng thể hiện tham vọng. Yêu cầu và tham vọng ấy chống trái nhau nên chúng ta phải nỗ lực hòa giải, thương lượng, thậm chí đấu tranh. Không bên nào tự nhìn lại chính mình. Yêu cầu ấy có phi thực tế, quá đáng và cao xa không? Tham vọng đó thỏa mãn dục vọng cá nhân hay cống hiến cho tập thể? Câu chuyện ngụ ngôn hai con dê cùng qua một chiếc cầu đáng cho chúng ta suy ngẫm.

Ra đi hay trở về, chim bay hay chim đậu, với tôi không quan trọng. Trong tam giới này nếu không lo tu tập thì dù đi chỗ nào, đậu ở đâu ta cũng khó tránh khỏi bất an, phiền não. Vả lại, mạng sống con người như đèn lung lay trước gió sao ta không lo dự bị tu tập? Nếu chúng ta biết tự kiểm điểm, tự phán xét, tự chuyển hóa nội tâm thì bất cứ nơi nào cũng trở thành tịnh độ. Ai nỗ lực nhìn vào bên trong mới có thể đi một ngày đàng học một sàng khôn. Thượng cầu Phật đạo, hạ hóa chúng sanh, nếu tâm niệm ấy thường xuyên thắp sáng thì nào có đi – về, bay – đậu? Cho nên, khi duyên hợp ta dừng lại và xây dựng mà đừng thủ đừng ái; lúc duyên tan ta ra đi mà chẳng vướng chẳng bận. Bất cứ trú xứ nào, ta đến được thì ta lui được. Bất cứ ở đâu ta phải cố gắng: đi người ta nhớ ở người ta thương. Điều này nói dễ nhưng khó thực hành lắm. Khó là do chúng ta chưa thường xuyên phòng hộ sáu căn và thiếu chánh niệm tâm ý mà thôi.

 

05.03.2011 (01.02.Tân Mão)