header image

All posts in September, 2013

BÁT CHÁNH ĐẠO hay BÁT THÁNH ĐẠO

Đặc điểm của bát chánh đạo:

  1. Giáo lý căn bản đạo đế, bao gồm tất cả những chi phần khác trong đạo đế.
  2. Phương pháp thực tập nổi bật nhất của Phật giáo, tương thông trong tất cả những pháp môn tu.
  3. Chắn chắn đưa đến an vui giải thoát.

Định nghĩa bát chánh đạo: con đường có tám chi: chánh kiến chánh tư duy (Tuệ) chánh ngữ chánh nghiệp chánh mạng, (Giới) chánh tinh tấn chánh niệm chánh định (Định).

Nghĩa của chữ chánh:

  1. Thẳng: con đường thẳng đến niết bàn, an vui hạnh phúc chân thật.
  2. Chân chính: con đường chân thật và con đường chính xác đã được kiểm nghiệm và giới thiệu bởi những người có trí tuệ..
  3. Đúng đắn: con đường đúng đắn cho mọi thời đại, mọi quốc độ (mười phương ba đời) chuyển hóa khổ đau, xây dựng hạnh phúc.
  4. Chắc chắn: khẳng định đi trên con đường này chắc chắn diệt được khổ, tạo được vui.
  5. Duy nhất: phương pháp duy nhất dùng để hủy diệt khổ đau, thiết lập an vui.

Nghĩa của chữ Bát Thánh đạo: con đường những bậc Thánh đã đi qua và truyền dạy lại gồm có tám chi.

Bát Thánh đạo cũng có nghĩa con đường có 8 chi đưa hành giả đến địa vị Thánh Hiền .

Nội dung và thực tập bát chánh đạo

Chánh kiến và chánh tư duy:

  1. Định nghĩa chánh kiến: quan điểm, lập trường, quan niệm, tầm nhìn, sự hiểu biết, thấy đúng
  2. Hiểu rõ tứ đế, duyên khởi và thấy các pháp là vô ngã
  3. Hiểu rõ thiện (thập thiện) và căn bản của thiện (vô tham, vô sân, vô si)
  4. Biết được chánh kiến và tà kiến (tương tự với 7 chi còn lại)

2. Phân loại: Có hai loại chánh kiến: chánh kiến hữu lậu, và chánh kiến vô lậu.

Thấy có bố thí, có cúng dường, có lễ hy sinh, có quả báo có các nghiệp thiện ác, có đời này, có đời khác, có mẹ, có cha, có các loại hóa sinh, ở đời có các bậc Sa-môn, Bà-la-môn, như vậy là chánh kiến hữu lậu.

Phàm cái gì thuộc tuệ căn, tuệ lực, trạch pháp giác chi, chánh kiến, đạo chi của một vị thành thục Thánh đạo A-la-hán, có vô lậu tâm, chánh kiến như vậy là chánh kiến vô lậu, siêu thế. (Sđd., tr. 207).

  • Định nghĩa chánh tư duy: suy nghĩ đúng, suy tư chân chánh.

  • Tu duy về hoặc căn cứ trên tứ đế, duyên khởi, vô thường, vô ngã là chánh tư duy.
  • Suy nghĩ về giới định tuệ, nhân quả nghiệp báo là chánh tư duy.
  • Suy nghĩ về thiện và căn bản của thiện là chánh tư duy.

2. Các loại chánh tư duy: tư duy hữu lậu (suy nghĩ hướng về tái sanh, rơi vào phước báo) và tư duy vô lậu (hướng về vô sanh)

Quán chiếu chánh kiến và chánh tư duy

  1. Chúng ta tu tập lâu nay mà đã có cái nhìn chân chánh – chánh kiến – về thân chưa, về cuộc đời chưa, về tiền bạc chưa, về người thân chưa?
  2. Nếu có chánh kiến rồi tại sao ta vẫn đau khổ bởi thân này, bởi cuộc đời này, bởi tiền bạc ta có, bởi con cái mình sinh ra?
  3. Một ngày ta suy nghĩ bao nhiêu lần? Mỗi lần như vậy, nếp suy tư của ta có căn cứ trên tam pháp ấn không, có căn cứ trên duyên khởi?
  4. Khi ta gặp chướng ngại ta suy nghĩ về điều gì? Lúc ta thành công ta có suy nghĩ đến ai?
  5. Tại sao nhiều lúc ta suy nghĩ đến chùa, đến Phật, đến Pháp, đến Tăng, đến điều thiện – tức là chánh tư duy, mà phiền não, chán chường, bất mãn, giận hờn vẫn nổi lên trong tâm?

 

Kết luận

Quan niệm sống đúng đắn mang đến cuộc đời ý nghĩa: mình vui và giúp người khác vui.

Nếp suy tư đúng đắn nâng thân phận con người lên cao hơn trong nấc thang tâm linh: cỗi nguồn của những hành động cao thượng.

Mong rằng, ai chưa có chánh kiến thì nỗ lực học Phật pháp hơn nữa để trang bị cho mình quan niệm sống chân chánh.

Ai đã có những suy nghĩ chân chánh và tích cực rồi thì đừng bao giờ quên lãng, từ bỏ.

 

 

 

 

 

Kính gởi đến quý vị chương trình tu học của khóa tu “Nghe và nhìn theo hạnh nguyện Quan Âm”

được chùa Việt Nam tổ chức vào những ngày thứ bảy của tháng 10 năm 2013.

Khóa tu được sự hướng dẫn của Đại đức Thích Chánh Trí và Sư cô Thích Nữ Minh Thông.

 

CHƯƠNG TRÌNH TU HỌC THÁNG 10 NĂM 2013 

Ngày thứ bảy 5, 12, 19 tháng 10 năm 2013

  • 9’30 am:           Tỉnh tọa
  • 10’00 am:          Tụng Kinh Phổ Môn
  • 11’00 am:          Pháp thoại của sư cô Minh Thông
  • 12’00 am:          Thọ trai
  • 1’30 pm:           Thiền buông thư
  • 2’30 pm:           Pháp đàm do thầy Chánh Trí hướng dẫn
  • 4’00 pm:           Công phu chiều (tụng kinh Di Đà và Mông sơn thí thực)
  • 6’00 pm:           Dược thực (ăn chiều)[1]
  • 8’00 pm:           Thiền trà
  • 9’30 pm:           Tỉnh tọa
  • 10’00 pm:         Chỉ tịnh

Ngày chủ nhật 6, 13, 20 tháng 10 năm 2013

  • 5’30 am:            Thức chúng
  • 6’00am:             Công phu sáng
  • 7’30 am:            Điểm tâm
  • 9’00 am:            Lễ sám hối
  • 11’00 am:          Khóa lễ hằng tuần
  • 2’00 pm:           Hoàn mãn

 


[1] Từ đây trở xuống chỉ áp dụng cho những người tham gia tu học đã đăng ký ngủ qua đêm tại chùa.

Chùa Việt Nam kính thông báo đến quý đồng hương Phật tử về việc tổ chức những ngày tu học trong tháng 10 năm 2013.

Trong tháng 10 năm 2013 này, chùa Việt Nam đã cung thỉnh sư cô Thích nữ Minh Thông đến hướng dẫn tu tập cho đạo tràng.

Chủ đề khóa tu: Nghe và nhìn theo hạnh nguyện Quan Âm

Thời gian:

Ngày thứ nhất: thứ bảy ngày 5 đến chủ nhật ngày 6 tháng 10

Ngày thứ hai: thứ bảy ngày 12 đến chủ nhật ngày 13 tháng 10

Ngày thứ ba: thứ bảy ngày 19 đến chủ nhật ngày 20 tháng 10

Ghi danh: bắt đầu ghi danh tham dự những ngày tu học trên từ ngày ra thông báo đến hết ngày 3 tháng 1o năm 2013. Khóa tu hoàn toàn miễn phí.

Chương trình ngày tu học: tụng kinh hai thời sáng tối, tọa thiền, pháp thoại, pháp đàm, thiền trà vào buổi tối.

Quý vị có thể ghi danh tu học trọn 3 ngày hoặc có thế chọn một, hai trong ba ngày trên.

Chùa chỉ nhận ghi danh với những ai tu học và qua đêm tại chùa, để ban tổ chức tiện bề sắp xếp.

Vị nào không thể qua đêm tại chùa vẫn được tham gia tu học.

Chùa sẽ lo toàn bộ vấn đề ẩm thực trong suốt khóa tu. Người tham gia tu học không phải bận tâm về ẩm thực.

Khóa tu là cơ hội để chúng ta thực tập và rèn luyện những khả năng xây dựng bình an hạnh phúc trong cuộc sống.

Chùa Việt Nam kính thông báo và mời quý vị tham gia tu học.

 

 

TU TẬP THẤT GIÁC CHI

Không phải nhìn trời mà đắc đạo, cũng không phải đọc sách hay nghiên cứu kinh điển mà thành đạo. Không phải suy nghĩ, không phải mong ước mà sự giác ngộ sẽ bùng vỡ trong tâm bạn. Có những điều kiện cần thiết để đưa đến giác ngộ, thất giác chi, bảy yếu tố giác ngộ.

Định nghĩa thất giác chi: yếu tố đem lại sự giác ngộ, 7 cách thực tập mang đến sự bùng phát trí tuệ. Thất bồ đề phần: 7 chi phần có khả năng đem đến trí tuệ. Gọi là giác chi vì nó đưa người tu tập đến giác ngộ.

Nội dung thất giác chi: niệm, trạch pháp, tinh tấn, hỷ, khinh an, định và xả.

Trạch pháp: dùng trí tuệ phân biệt sự đúng sai của các pháp.

Hỷ: cảm giác vui mừng, vui vẻ, thỏa mãn, thích thú khi gặp và đạt được chánh pháp.

Khinh an: cảm giác nhẹ nhàng, an vui trước cảnh sở duyên, gồm thân/tâm khinh an.

Định: tâm sở nằm trên đối tượng quán sát. Ðịnh ghim tâm vào đối tượng, xuyên thấu vào trong và nằm trong đó.

Xả: có nghĩa là bình thản, trầm tĩnh, vô tư, không thành kiến, không lệch lạc, không thiên vị. Thông thường, xả được ám chỉ sự quân bình năng lực. Ðây là một tâm trung gian không thiên lệch.

Áp dụng thất giác chi vào đời sống

Chánh niệm tỉnh giác với từng hành động lời nói hằng ngày: thực tập niệm giác chi.

Đưa ra những quyết định sáng suốt, tránh phân vân lưỡng lự. Một khi đã quyết định thì sẵn sàng gáng chịu trách nhiệm của quyết định đó. Thực tập trạch pháp giác chi.

Nỗ lực hết sức mình để hoàn thành những gì mình làm với kết quả cao nhất, nhớ đến những cảnh khổ hơn mình để tiến nỗ lực – thực tập tinh tấn giác chi.

Thưởng thức những niềm vui lành mạnh mình có được trong cuộc sống, dù rằng niềm vui ấy bé nhỏ, qua nhanh như: nhìn hoa nở, uống cà phê, nghe câu kinh, thấy lá rơi, ngắm tượng Phật, giây phút yên tỉnh trong nhà.. Đó là thực tập hỷ giác chi.

Chú ý đến thức ăn thích hợp, thời tiết thuận lợi, tư thế thoải mái, giữ tâm quân bình là những điều giúp khinh an thư thái có mặt. Tránh thân gần người nóng nảy, náo động.

Gom tâm lại, gìn giữ cho không giao động trước khen chê thị phi thế cuộc. Nhìn sâu vào đối tượng, giữ quân bình khi thành công, khích lệ khi bị thất bại. Đó là tu tập định giác chi.

Tránh người quá luyến ái, hòa giải các đối nghịch bên trong nội tâm, nhận xét khách quan, vô tư. Thực tập hạnh khiêm tốn, vượt lên trên cái tôi và cái của tôi.

Kết luận

Thất giác chi là một trong những phương pháp tu tập và chuyển hóa nổi bật trong đạo đế.

Xã hội Mỹ cho ta nhiều niềm vui về vật chất. Hãy sử dụng những phương tiện vật chất ấy hỗ trợ sự tu tập của mình sao cho mang lại kết quả cao nhất.

Lựa chọn sáng suốt là một thách thức lớn cho chúng ta. Muốn có một lựa chọn sáng suốt cần học hỏi nhiều hơn, thân gần thầy hiền bạn tốt hơn nữa.

Dành một phút để tự mừng cho mình: khỏe mạnh, ở chỗ văn minh, con hiền cháu thảo, thầy hiền bạn tốt. Thấy rằng điều mình nên mừng nhiều hơn là điều mình đáng lo.

Bài học từ bỏ tất cả mới có được tất cả: buông xả mọi định kiến cố chấp, diệt trừ chấp ta và của ta.

 

 

 

Như thường lệ, hằng tháng có một ngày tu học tại đạo tràng chùa Việt Nam. Sau đây là nội dung tóm tắt bài pháp thoại của thầy trong ngày tu học vừa qua.

NGÔI CHÙA VÀ SỰ TU TẬP CÁ NHÂN

Câu hỏi: “Con thấy có nhiều người nói rằng tôi không cần phải đi chùa, tu ở nhà được rồi. Có nhiều người đi chùa mà vẫn dữ dằn, khó chịu?” Hôm nay chúng ta cùng nhau tìm hiểu và quán chiếu câu hỏi này.

Thứ nhất tu tại gia, thứ hai tu chợ, thứ ba tu chùa.

Tu đâu chẳng bằng tu nhà, thờ cha kính mẹ mới là chân tu.

Hai nội dung chính: Quan niệm về nơi chốn tu tập, và Đi chùa mà còn nhiều phiền não.

Ba quan niệm dấu hỏi từ câu hỏi:

  1. Quan niệm đi không cần đi chùa, ở nhà tu được rồi.
  2. Nghi vấn rằng tại sao nhiều người đi chùa mà vẫn dữ dằn?
  3. Không đi chùa, chỉ ở nhà tự tu vì người đi chùa dữ dằn khó chạm.

Một số câu hỏi liên quan:

    1. Quan niệm tu ở nhà thôi được rồi có đúng và đủ không? Nhà là ổ oan gia liệu ta có đủ sức tu không? Chùa là nơi thờ phụng Tam Bảo, chốn thanh tịnh, bình yên, nơi trau dồi giới định tuệ ta không đi thì đi đâu?
    2. Nguyên nhân nào khiến những người đi chùa nhưng vẫn còn dữ dằn? Họ làm việc mệt quá, áp lực công việc, ỷ lại công trạng, chưa chuyển hóa tâm lý tiêu cực, được Tăng Ni nhắc nhở, nghĩ mình là đúng, là nhất, là có quyền hành quyết định…
    3. Tại sao không đi chùa? Đối tượng này là ai? Là những người đã có thời gian gắn bó với chùa, đã có những bước đầu học Phật tu Pháp theo Tăng bảo.
    4. Đi chùa, tụng kinh niệm Phật, ngồi thiền ăn chay, bố thí cúng dường mục đích để làm gì? Chuyển hóa thói hư tật xấu, đoạn trừ sân si nóng giận, thay đổi tính nết, rèn luyện thói quen tốt, xóa tan đau khổ, xây dựng an vui.
    5. Kết quả tu tập biểu lộ ra qua thân khẩu ý của người Phật tử? Thân siêng năng làm việc thiện, miệng nói lời đoàn kết hòa ái, ý suy nghĩ tích cực đúng đắn.
    6. Nếu mình gặp những người đi chùa mà vẫn dữ dằn, khó chịu thì mình nghĩ gì, nói gì và làm gì? Nghĩ: họ đang đau khổ, tìm nguyên nhân vì sao họ như thế, cảm thông và rút bài học cho mình. Nói: lời hòa dịu, từ ái, nhỏ nhẹ, im lặng tốt nhất. Làm: Tránh xa, tìm cách giúp đở, chia sẻ công việc với họ, vâng lời họ trong sự kiên nhẫn cao nhất.

Kết luận

Nhìn lại mình xem có lúc nào ta chán chùa, có ý định bỏ chùa, bất mãn, chán nãn, buông xuôi, mặc kệ chùa chưa?
Thấy rằng mình tu ở nhà thôi cũng đã thành công rồi, tới chùa thêm phiền phức, rắc rối, mất thời gian?
Mình có phải là những người nằm trong đối tượng tác giả câu hỏi nêu ra không – người đi chùa là vẫn dữ dằn?

Bài học tâm lý: thông cảm cho phiền não vô minh sâu dày; tôn trọng và quyết tâm nương tựa tăng thân; kiên nhẫn và giàu lòng từ bi hơn; quán chiếu rằng lỗi lầm của họ là bài học cho mình; thấy sai xót của người thì dễ mà nhìn lại lỗi lầm của mình mới khó.

Tu càng cao càng giỏi thì càng gắn bó với chùa, với Tam Bảo. Phiền não càng ít thì càng dễ dàng cảm thông và cảm hóa người khác.

Câu chuyện một vị Đại đề tử của Phật không đi bố tát bị Phật nhắc nhở: ông là trưởng lão tỳ kheo mà không đi họp chúng bố tát thì ai đi?

 

« Older Entries