header image

All posts in May, 2013

 

Hoàng hậu Ma-gia đản sanh thái tử Tất-đạt-đa tại vườn Lâm-tỳ-ni

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Nhất tâm đảnh lễ Lâm Tỳ Ni viên, Vô Ưu thọ hạ thị hiện đản sanh, Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Ai ra đời để mang lại bình an hạnh phúc cho muôn loài chúng sanh? Người nào xuất hiện để dựng lại những giá trị nhân văn đã sụp đỗ, hoang tàn và mở ra con đường đã bị lãng quên? Bậc tôn quý nào vừa chào đời đã cất tiếng hống sư tử sang phẳng tà kiến thế gian? Sự xuất hiện của vĩ nhân nào đã truyền trao cảm hứng tu tập cho muôn ngàn thế hệ và khơi nguồn sáng tạo cho hàng vạn thiêng anh hùng ca bất tuyệt? Hình ảnh đản sanh của ai cách đây hơn 25 thế kỷ mà ngày nay vẫn được toàn thể nhân loại tôn vinh với tột cùng niềm kính ngưỡng tri ân? Chắn chắn không ai khác ngoài người cha mến thương của chúng ta: đức Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni.

Trong niềm kính ngưỡng và tri ân tột cùng ấy, lễ kỷ niệm ngày Phật đản sanh được các thế hệ Phật tử tổ chức trang nghiêm trọng thể. Có một ca khúc tâm hồn thể hiện niềm kính ngưỡng ấy và được tụng niệm trong tất cả những buổi lễ trang nghiêm. Đó là bài sám Khánh đản.

Sám Khánh đản là một khúc ca tâm hồn. Khẳng định như vậy vì mỗi khi quỳ trước Phật đài tụng bài sám ấy, chúng ta thấy rõ lòng mình hơn, nhìn sâu cuộc đời mình hơn và quán chiếu về thân phận của mình nhiều hơn. Điều này có nghĩa, mỗi lần tụng sám Khánh đản là mỗi lần chúng ta nhìn lại quảng đường tu tập của mình. Hãy bắt đầu quảng đường ấy bằng sự quy kính Tam Bảo, như đoạn mở đầu của bài sám:

Đệ tử hôm nay,                                   

Gặp ngày Khánh đản,

Một dạ vui mừng,

Cúi đầu đảnh lễ

Thập phương Tam Thế,

Điều Ngự Như Lai,

Cùng Thánh, Hiền, Tăng.

Đoạn này khởi đầu điệp khúc chuyển hóa thân tâm bằng hành động quy kính Tam Bảo và tinh thần hoan hỷ. Ngày Khánh đản là ngày mùng tám tháng tư âm lịch theo truyền thống trước đây. Nhưng hiện nay Phật tử toàn thế giới lấy ngày mười lăm tháng tư âm lịch làm ngày kỷ niệm chung cho cả ba sự kiện Đản sanh, Thành đạo và Niết bàn của đức Phật, gọi là Vesak. Hành động quy kính biểu hiện qua câu “cúi đầu đảnh lễ“. Đảnh lễ ai? Đảnh lễ Tam Bảo: Phật bảo – “thập phương tam thế, điều ngự Như Lai“, và Tăng bảo – “cùng Thánh Hiền Tăng“. Pháp bảo được ẩn lược để trình bày ở đoạn sau nhằm tăng thêm phần quan trọng. Tinh thần hoan hỷ thể hiện ở “một dạ vui mừng“. Đây là hai đặc điểm nổi bật nhất của đoạn này: quy kính Tam Bảo và hoan hỷ đón mừng khánh đản. Vui là vui với tất cả tấm lòng tôn kính sâu sa và chí thiết. Mừng là mừng bằng cách dâng trọn thâm tâm để cúng dường và quán chiếu. Có tôn kính Tam Bảo mới mở được cánh cửa chuyển hóa. Phải hoan hỷ vui mừng mới có thể tiếp nhận những giá trị cao cả thiêng liêng. Tại sao vui, tại sao mừng với trọn tấm lòng thành kính? Câu trả lời đến ngay sau đây:

Chúng con cùng pháp giới chúng sanh

Bởi thiếu nhơn lành,

Thảy đều sa đọa;

Tham sân chấp ngã,

Quên hẳn đường về,

Tình ái si mê,

Tù trong lục đạo,

Trăm dây phiền não,

Nghiệp báo không cùng.

Nỗi mừng vui lớn nhất và quan trọng nhất: nhờ Tam Bảo mà chúng ta thấy rõ được thân phận, vị trí, hoàn cảnh, tình trạng và những vấn đề của mình. Đoạn thứ hai này chỉ thẳng những điều đó cho chúng ta. “Chúng con cùng pháp giới chúng sanh” là chúng ta và tất cả những gì tương sinh cộng sinh với chúng ta. Có hay không “thiếu nhơn lành, thảy đều sa đọa” là thân phận hiện tại của chúng ta? Có phải vị trí sinh ra và chết đi của chúng ta là đang “tù trong lục đạo” – giam hãm trong cảnh giới Trời, Người, A Tu La, Địa Ngục, Ngạ Quỷ và Súc Sanh không? Ai nhận thức được rằng hoàn cảnh sinh hoạt tinh thần của chính mình là “tham sân chấp ngã, quên hẳn đường về“? “Tình ái si mê” phải chăng là tình trạng sống chết của chúng ta? Và, tất cả những vấn đề nan giải của chúng ta, có lẻ chắn chắn, không gì hơn khác ngoài “trăm dây phiền não, nghiệp báo không cùng“.

thiếu nhơn lành – thiếu những hành động và ý nghĩ cao đẹp, nên hàng loạt bất hạnh xảy ra trong toàn bộ cuộc đời: sa đọa ăn chơi, chấp ngã cạnh tranh, tù đày trong ân oán tình trường, quấn thắt bởi trăm dây phiền não gia tộc họ hàng, si mê mù quáng, quên đường về chân thiện mỹ. Rõ ràng, cái thiếu ấy là cái thiếu căn bản nhất, sâu xa nhất và thâm kín nhất của chúng ta: thiếu những nhân tố đưa đến phước đức và trí tuệ. Con đường chuyển hóa đã được xác định mục tiêu ngay trong đoạn này: biến sự thiếu nhơn lành thành đầy đủ duyên lành. Cũng bởi vì ý thức phải cải tạo cái thiếu ấy, và vì cái thiếu ấy mà Phật ra đời, mà ngày Khánh đản được kỷ niệm.

Thế là, chúng ta vui mừng chào đón ngày Khánh đản vì, nhờ ngày ấy, chúng ta biết nhìn lại số phận của mình, biết mình thiếu cái gì. Hơn thế nữa, chúng ta vui mừng vì sự xuất hiện của một vĩ nhân – người giải quyết những vấn nạn chung cho toàn nhân loại, người mà sinh ra không phải chỉ để tìm kiếm hạnh phúc cho riêng mình. Người đó là đấng Năng Nhân được nói đến tại đoạn thứ ba:

Nay nhờ Phật Tổ Năng Nhân,

Dủ lòng lân mẫn,

Không nỡ sinh linh thiếu phước,

Nặng kiếp luân hồi,

Đêm dài tăm tối,

Đuốc tuệ rạng soi.

Nguyện cứu muôn loài,

Pháp dùng phương tiện.

Các bạn đừng yêu cầu chúng tôi giải thích Năng Nhân nghĩa là gì. Bởi vì những câu tiếp sau đó đã trả lời cụ thể ý nghĩa của mỹ từ ấy. Ai mang tình thương rộng lớn đến những kẻ thiếu phước đang bị luân hồi tăm tối; người nào sử dụng ngọn đuốc trí tuệ để ứng dụng chánh pháp vào cõi trần cứu khổ chúng sanh, người đó là bậc Năng Nhân. Thế gian này có bao nhiêu bậc Năng Nhân như thế?

Đoạn thứ ba này nêu rõ nguyên nhân vì sao Phật ra đời. Ngài ra đời vì lòng đại từ bi, thương xót những chúng sanh đau khổ bởi thiếu phước, nặng kiếp luân hồi, đêm dày tăm tối – trong đó có chúng ta. Ngài xuất thế với một đại nguyện: nguyện cứu muôn loài. Ngài đản sanh như một đuốc tuệ rạng soi. Cuộc đời Ngài, ngay từ khi mới chào đời đến lúc trút hơi thở cuối cùng, là minh chứng sáng ngời cho tinh thần và hành động cao cả của chánh pháp: đại từ bi, đại trí tuệ và đại nguyện lực. Chỉ cần nhìn lại và quán chiếu ba tinh thần và hành động ấy thôi cũng đã trở thành cơ hội lớn để chúng ta gạn lọc thân tâm. Kinh Thủy Sám đã từng nêu nỗi niềm tâm sự rất chung: “Chúng ta cùng với Bổn sư Thế Tôn đồng là phàm phu, vậy mà ngày nay Thế Tôn thành đạo trải qua kiếp số quá hơn cát bụi, còn chúng ta đây đam mê lục trần, lưu chuyển sinh tử, chưa thấy giải thoát. Điều ấy mới thật đáng xấu hổ nhất“. Nếu bạn vẫn chưa nhận ra sự xấu hổ thì chắc chắn sẽ ý thức được sự kém phước đức của mình đối với vĩ nhân ấy ở ngay đoạn sau đây:

Ta Bà thị hiện,

Thích chủng thọ sinh,

Thánh Ma Gia mộng ứng điềm lành,

Vua Tịnh Phạn phước sinh con thảo.

Ba mươi hai tướng tốt.

Đoạn này cung cấp thông tin con người lịch sử của đức Phật Thích Ca. Ngài sinh ra với thân phận Thái tử, với cha là vua Tịnh Phạn dòng họ Thích Ca, Sakya, mẹ là hoàng hậu Ma Gia. Ngay từ khi mới chào đời Ngài tự trang nghiêm mình bằng sự toàn hảo về phước đức và trí tuệ: ba mươi hai tướng tốt. Bởi sự biểu hiện của những nhân tướng tuyệt mỹ ấy mà tiên nhân A Tư Đà đã khóc ròng sau khi xem tướng thái tử và tuyên bố đinh ninh rằng: chính con người này sẽ trở thành một bậc vĩ nhân tối thượng. Ông khóc nấc. Ông đã quá già và không thể sống đến ngày được nghe vĩ nhân ấy thuyết pháp. Chúng ta may mắn hơn ông ấy trong sự gặp và nghe chánh pháp. Nhưng ít ai trong chúng ta khóc và tiếc như ông ấy trong mỗi lần kỷ niệm Phật đản sanh. Ôi tiền nhân và hậu thế, ai cũng có nỗi niềm vinh hạnh rất riêng!

Không những chỉ rõ đức Phật là một con người mang đầy đủ tính lịch sử, đoạn thứ tư này còn gián tiếp giúp ta quán chiếu thân tâm. Ai kia là thái tử mà đã vất bỏ tất cả ngai vàng điện ngọc, vợ đẹp con ngoan, để xuất gia học đạo? Còn ta thế nào? Ai kia sở hữu vô vàn tinh hoa sắc đẹp và trí tuệ tuyệt đỉnh mà vẫn buông xả hết, để dấn thân vào con đường vô ngã vị tha? Hỏi mình ra sao? Người ta con vua mà dám đi tu; còn mình con bác sĩ đã vội tự cao tự đắc. Người ta thành công mọi mặt mà vẫn khiêm tốn nhẫn nhịn; trong khi mình thất bại dẫy đầy mà chưa một lần cúi đầu nhường bước. Quán chiếu như vậy may ra khích lệ chúng ta tinh tiến đôi chút trên con đường thăng tiến tâm linh. So sánh như trên nhằm cạo gọt bớt phần nào tham sân chấp ngã vốn đeo đẳng theo ta từ muôn kiếp nào. Chúng ta hãy tiếp tục soi chiếu mình vào tấm gương trong vắt của cuộc đời bậc vĩ nhân mà hôm nay chúng ta lễ bày kỷ niệm:

Vừa mười chín tuổi xuân,

Lòng từ ái cực thuần,

Chí xuất trần quá mạnh.

Ngai vàng quyết tránh,

Tìm lối xuất gia,

Sáu năm khổ hạnh rừng già,

Bảy thất nghiêm tinh thiền tọa.

Chứng thành đạo quả,

Hàng phục ma binh,

Ba cõi đều dậy tiếng hoan nghênh,

Muôn vật thảy nhờ ơn tế độ.

Đoạn thứ năm mô tả tóm tắt hành trình sau khi đản sanh đến lúc thành đạo của đức Bổn Sư muôn vàn yêu kính. Hành trình ấy: xuất gia, khổ hạnh, thiền định, hàng phục ma quân và thành đạo, đã trở thành nguồn cảm hứng tu hành bất tuyệt cho bao thế hệ Phật tử. Hôm nay, ngày Khánh đản, chúng ta ôn lại hành trình đó để thực tập những công hạnh: mở rộng lòng từ ái cực thuần, nung nấu chí xuất trần, quyết tránh dục lạc thế gian, nuôi dưỡng hạnh xuất gia, tu khổ hạnh, nỗ lực tinh nghiêm thiền tọa. Nếu một lòng dũng mãnh làm theo những điều đó thì chắc chắn một ngày nào đó ba cõi dậy tiếng hoan hô ta, và muôn vật thảy nhờ ơn tế độ của ta. Đây không phải viễn cảnh vô vọng mà là cuộc viễn hành đầy hữu vọng. hay hữu tùy thuộc vào sự chuyển hóa nội tâm theo gương đức Cha Lành của chúng ta.

Ba cõi hoan nghênh không phải Ngài sở hữu vàng son gấm vóc, mà vì Ngài là hiện thân của con đường tình thương và sự tỉnh thức. Muôn vật thảy nhờ ơn cứu độ bởi Ngài tự giác mà vẫn không quên giác tha giác hạnh viên mãn. Tiếng hoan nghênh kia, hơn 2556 năm, vẫn thường âm vang như sóng hải triều. Ơn cứu độ ấy, dẫu bao thăng trầm lịch sử điêu linh, mãi khắc sâu trong thâm tâm vạn loại hơn cả vầng nhật nguyệt chói lòa. Đức Bổn Sư xứng tánh ứng sự hoan nghênh ca ngợi của ba cõi chúng sanh. Đấng Từ Phụ tùy duyên cảm tâm thành kính biết ơn khắp vạn loại hữu tình. Bởi ước mong xứng tánh và tùy duyên đó mà hôm nay chúng ta phát tâm:

Chúng con nguyền,

Dứt bỏ dục tình ngoan cố,

Học đòi đức tánh quang minh.

Cúi xin Phật Tổ giám thành,

Từ bi gia hộ.

Chúng con cùng pháp giới chúng sanh

Chóng thành đạo cả.

Đoạn cuối cùng, thứ sáu, đúc kết tinh hoa sự nghiệp tu hành để làm món quà ý nghĩa nhất cúng dường ngày Phật đản sanh. Tinh hoa ấy, món quà ấy chỉ gói gọi trong hai câu: dứt bỏ dục tình ngoan cốhọc đòi đức tánh quang minh. Và đây cũng là thâu tóm toàn bộ những nốt nhạc căn bản nhất của khúc ca chuyển hóa.

Phải chăng vì ngoan cố chạy theo dục tình nên chúng ta sa chân vào hố sâu phiền não? Có hay không bởi thờ ơ với những đức tánh cao đẹp mà chúng ta dẫy đạp trong biển rộng vô minh? Dục tình ngoan cố hay lòng ta thiếu dũng cảm tự tin? Đức tánh quang minh hay tâm ta tham sân chấp ngã? Ôi, ai can đảm vất bỏ gánh nặng ổ oan để gia nhẹ bay cùng trời xanh mây trắng? Trời, kẻ nào dám bước tới tận sào vực thẳm chết một lần để vạn kiếp hùng anh? Ta tuy chưa dứt bỏ ngay lập tức dục tình thì ít ra cũng nên ý thức tình là dây oan để đừng kết thắt thêm nữa. Ta dẫu chưa đủ dũng khí hành động theo đức tánh quang minh thì cũng nguyện hướng tâm về nẻo thiện tu là cội phúc. Như thế may ra chúng ta mới cảm nhận được sự chứng minh và gia hộ của chư Phật. Duy nhất con đường dứt bỏ dục tình ngoan cốhọc đòi đức tánh quang minh ấy mới giúp chúng ta chóng thành đạo quả.

Sám Khánh đản mở đầu với tâm trạng hoan hỷ và tôn kính ba ngôi Tam Bảo để rồi kết thúc với ý chí dũng mãnh tự tin. Toàn bộ dòng chảy nghĩa lý xuyên suốt trong từng câu từng lời phô bày tâm chí người con Phật. Tâm chí ấy khởi đầu bằng sự quán chiếu tình trạng bản thân để thấy mình thiếu cái gì. Tiếp theo, tâm chí ấy được soi sáng qua hình ảnh đức Phật lịch sử nhằm phát khởi những tâm nguyện và hành vi cao đẹp. Cuối cùng, tâm chí ấy đúc kết với một hành động thề nguyện dứt khoát: dứt bỏ Phàm tình và noi theo Phật hạnh. Đức Cha lành của chúng ta đã đản sanh từ tâm chí ấy. Hôm nay, tưởng niệm ngày bậc Vĩ nhân ra đời, bài Khánh đản gợi lại tâm chí ấy để hướng dẫn cuộc đời chúng ta.

Từ sâu thẳm tâm hồn khơi dậy nhiều nỗi niềm tâm trạng mỗi lần tụng bài sám Khánh đản. Hổ thẹn thân phận. Tri ân báo ân. Khấn khích ý chí. Tức giận bản thân. Tự mừng cho mình. Giận mình biết dục tình ngoan cố nhưng nhiều khi vẫn chần chừ chưa dám dứt bỏ. Tức bản thân ý thức đức tánh quang minh song lắm lúc vẫn xem thường giác tánh để hành động gian tà. Hỗ khi thấy mình còn đầy tình ái si mê, sống trong ngục tù ân oán với trăm dây phiền não mà cứ tưởng thiên đường tịnh độ. Thẹn rằng mình đang thiếu phước và đã nhiều kiếp xoay vần trong ổ oan gia mà lắm lúc vẫn tự tung tự tác. Đúng là chúng ta sống trong thế giới thiếu nhơn lành, đang sa đọa và nghiệp báo không cùng. Song, đâu đó vẫn lóe lên một niềm tin mãnh liệt, đủ để quên đi và vượt qua mọi gian nan trở ngại. Tự mừng cho mình đã có lối đi. Chúng ta đã có đường về chứ không phải quên hẳn đường về.

“…Lối đi về đốt tuệ thường soi, tiếng từ âm mãi thường vang, đường đi trải ánh nắng vàng…”

Lời bài hát Chân nguyên – sáng tác Trực Hội

 

Chánh Trí

ĐỨC PHẬT DƯỚI CÁI NHÌN CỦA MỘT CON NGƯỜI LỊCH SỬ

Hướng về kỷ niệm lần thứ 2557 năm ngày đức Phật Thích Ca Mâu Ni ra đời, chúng ta cùng nhau tìm hiểu sâu rộng hơn cuộc đời của ngài.

Tìm hiểu đời ngài  như một con người để quán chiếu lại với chính mình, cũng một con người.

Hôm nay chúng ta cùng nhau ôn lại lịch sử của một con người toàn hảo – đức Phật Thích Ca, qua 19 danh hiệu mà chúng ta đã cũng nhau chí thành đảnh lễ vừa rồi.

1. A tỳ ngục tốt sơ phát thiện tâm: đức Phật bắt đầu hành trình tu tập khi phát một tâm niệm lành ở địa ngục A Tỳ. Lúc đó ngài là một tội nhân (tốt) nhưng thấy tội nhân khác đau khổ quá nên ngài nguyện chịu thay cho người kia nên liền chết và tái sanh trở lại cõi trời.

2. Tam kỳ quả mãn, bách kiếp nhơn viên: từ đó trải qua 3 thời kỳ tu hành để thành tựu quả vị sau cùng, hàng trăm kiếp làm cho viên mãn những hạnh nguyện cao cả. tam kỳ là ba a tăng kỳ kiếp: đó là thời gian phát tâm tu hành đến lúc thành tựu viên mãn Phật quả. Tam kỳ là ba khoảng thời gian tu lục độ vạn hạnh. Bách kiếp là 100 kiếp tu hành ở địa vị đẳng giác.

3. Nhất sanh bổ xứ, hiện trú Đâu Suất: còn một đời nữa là thành Phật quả, hiện thân cư trú tại cung trời tên là Đâu Suất. Đó là cõi trời thứ 4 trong 6 tầng trời cõi dục, chư thiên ở đây tinh tấn tu bát chánh đạo, thọ 4000 tuổi, 1 ngày đêm bằng 400 năm nhân gian.

4. Ta Bà hóa độ, ứng hiện sanh thân: tái sanh bằng thân thể con người ở nhân gian để thành Phật và hóa độ chúng sanh.

5. Đâu Suất giáng trần, Ma Da ứng mộng: Hoàng hâu Ma Da nằm mộng thấy voi trăng 6 ngà, lúc đó ngài chính thức quyết định tái sinh ở nhân gian.

6. Hoàng cung thác chất, hiện trú thai tạng: chính thức ở trong thai hoàng hậu Ma Da tại hoàng cung nước Ca Tỳ La.

7. Vô ưu thọ hạ, thị hiện đản sanh: Hạ sanh dưới cây Vô Ưu, xuất hiện cõi trần. Đản sanh: ngày sanh ra, còn gọi sinh nhật, birthday, nguyên nghĩa là nuôi.

8. Hiện thọ dục lạc, yếm ác vô thường: sống trong nhung lụa với thân phận thái tử, nhưng rồi cũng nhàm chán cảnh trần bất định (yếm ác).

9. Du quán tứ môn, yếm lão bệnh tử: đi du ngoạn bốn cửa thành, thấy cảnh già bịnh và chết nên ngán ngẩm cuộc đời.

10. Bán dạ du thành, xuất gia học đạo: nửa đêm vượt thành, quyết tâm xuất gia học đạo.

11. Thanh sơn đoạn phát, phỏng đạo tầm sư: rằng xanh cắt tóc, theo đường rừng tìm thầy học đạo.

12. Tuyết lãnh tu hành, lục niên khổ hạnh: Tự tu hành trong núi trải qua sáu năm tu khổ hạnh.

13. Bồ đề thọ hạ, hàng phục ma quân: sau khi tu khổ hạnh thấy không kết quả, ngài đổi phương pháp và ngồi thiền dưới cây bồ đề, chuyển hóa ma quân phiền não.

14. Công viên quả mãn, đổ tinh thành đạo: sau khi chiến thắng ma quân, thấy sao mai mọc, thành chánh quả, Phật quả.

15. Tứ thập cửu niên thuyết pháp độ sanh: 49 năm thuyết pháp độ chúng sanh, tóm tắt trong ba chữ: giới định tuệ.

16. Tam thừa giáo bị, hóa độ dỉ tất: giáo hóa đầy đủ cho ba thừa: thanh văn duyên giác và Bồ tát, coi như công cuộc độ sanh đã xong.

17. Ta La song thọ thị hiện niết bàn: hóa độ xong thì làm gì? Ra đi vào cõi chân nguyên. Đức Phật chết dưới hai cây Sa La mọc song song trong rừng Câu Thi La.

18. Lưu bố xá lợi phước lợi nhơn thiên: sau khi hỏa thiêu, xá lợi Phật chia thành 8 phần để nhân gian chiêm báo cúng dường.

19. Ta bà giáo chủ đại từ đại bi phụ: người cha, vị thầy dẫn đường đầy tình thương của nhân gian.

 

Quán chiếu:

Mỗi danh hiệu là một bài học cho chúng ta.

Mỗi hành động của ngài là một tấm gương cho chúng ta soi chiếu bản thân.

Mỗi giai đoạn trong cuộc đời ngài là một niềm khích lệ tinh thần lớn lao.

Mỗi lời ngài nói là một cảm hứng tu tập linh thiêng.

Đức Phật đến cuộc đời này và từ giã trần gian như một con người. Những gì ngài làm, những gì ngài nói chúng ta hoàn toàn có thể làm và nói như ngài. Thiện tâm ai mà không phát được? Hàng phục ma quân phiền não ai mà chẳng làm được?

Một lần đọc lại những giai đoạn trong cuộc đời ngài thôi cũng đủ sức khích lệ chúng ta hơn nữa trên con đường tu tập chuyển hóa thân tâm mình.

Nguyện cầu mỗi mùa Phật đản đến chúng ta phát những tâm niệm lành nhiều hơn nữa.

Nguyện cầu mỗi mùa Phật đản về chúng ta biết hành động cho người khác nhiều hơn nữa.

Nguyện cầu mỗi mùa Phật đản tới chúng ta càng tiến gần hơn quả vị giác ngộ Phật quả của mình hơn nữa.

Đạo tràng tu học chùa Việt Nam.

Chùa Việt Nam kính mời quý vị Phật tử tham dự ngày Tu học hằng tháng của đạo tràng tu học chùa Việt Nam.

Thời gian: Thứ Bảy ngày 18 tháng 5 năm 2013.

Bắt đầu lúc 9 giờ 30 sáng.

Kết thúc lúc 04 giờ chiều.

Đề tài của ngày tu học: Hướng về ngày Phật ra đời.

Ngày tu học là thời gian quý báu để chúng ta thực tập sự quán chiếu lại thân tâm mình và học hỏi Phật pháp.

Đạo tràng tu học chùa Việt Nam thân mời quý vị về chùa tham dự.

CẢM NIỆM PHẬT ĐẢN 2557

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Khó thay, được làm người,

Khó thay, được sống còn,

Khó thay, nghe Diệu Pháp,

Khó thay, Phật ra đời!

Pháp cú 182.

Trong bốn điều khó trên, điều nào khó nhất? Câu trả lời là “Khó thay, Phật ra đời“.

Giữa ba đường sáu nẻo luân hồi mà được tái sinh làm người là điều cực kỳ may mắn. Cực kỳ may mắn như con rùa mù trăm năm nổi lên mặt biển một lần mà có thể chui lọt đầu qua cái lỗ trên tấm ván mục trôi lênh đênh vô định trong đại dương. Đó là lý do nói khó thay được làm người.

Sinh ra làm người mà giữ gìn được thân mạng này bình an khỏe mạnh trong khi tứ đại không ngừng sanh diệt biến ảo, nghiệp lực đoanh vây, chướng duyên cột thắt là một điều vô cùng hạnh phúc. Khó thay được sống còn vì thoát được những tai nạn bất ngờ, tật bịnh rình rập, bom rơi lạc đạn, lửa đốt nước chìm, nhân tình đen bạc.

Sống còn đã quý nhưng càng quý báu hơn khi sống mà có lý tưởng, sống với niềm tin chân chánh, sống bằng chánh kiến, sống mà mang lại hạnh phúc an vui cho mình cho người. Đó là lý do nói khó thay nghe Diệu pháp. Chính Diệu pháp cho ta lý tưởng phụng sự tha nhân, niềm tin vào chính mình và cái nhìn chân chánh về thế thái nhân tình.

Khó thay Phật ra đời mới là khó nhất. Nhờ Phật ra đời mà chúng ta mới nhận thức được làm người là quý báu. Làm người mới có cơ hội thuận tiện để tu thân hành thiện, thăng tiến trên hành trình tâm linh. Nhờ Phật ra đời mà chúng ta ý thức được mình sống còn trong bình an là do mình biết giữ gìn, biết làm lành tránh ác. Bình an không phải do tránh nặng tìm nhẹ mà bởi một lòng son sắt tin sâu nhân quả, sống bằng trí tuệ và dùng tâm từ bi mà đối nhân xử thế. Nhờ Phật ra đời mà chúng ta thấy rõ con đường chuyển hóa khổ đau buồn giận thông qua diệu pháp bốn chân lý và mười hai nhân duyên. Chỉ có diệu pháp mới giúp chúng ta vượt lên trên bất an cuộc sống, bất bình xã hội và bất ổn nhân sinh.

Khó được làm người, nay chúng ta đã được. Khó được sống còn, giờ chúng ta vẫn bình an vô sự. Khó nghe diệu pháp, hiện tại chúng ta đang được học hỏi và thực tập. Khó Phật ra đời, bây giờ chúng ta tổ chức đại lễ Phật đản 2557. Diễm phúc vô lượng khi khó được mà được, được nhiều. Cao quý vô biên chuyện khó làm mà làm, làm tốt. Đó là tinh thần cúng dường và đón chào khánh đản đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni năm nay, năm 2013, của chùa Việt Nam chúng ta: tinh thần đem tất cả thân tâm hiến cúng ngày Phật về.

Phật về cho hết chiến tranh

Hoa sen nở khắp đất lành năm châu

Phật về vui hết khổ đau

Đông Tây gần lại tình sâu đạo mầu.”

Chùa Việt Nam

 

Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Kính gởi toàn thể Phật tử và quý đồng hương,

Không khí kỷ niệm ngày đức Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni đản sanh 2557 đang đến trên khắp năm châu bốn biển.

Hòa vui trong không khí đó, chùa Việt Nam sẽ tổ chức Đại lễ Phật đản Phật lịch 2557 vào hai ngày:

– Thứ bảy, ngày 01 tháng 06 năm 2013: ngày Tu học và Lễ cúng Thí thực.

– Chủ nhật, ngày 02 tháng 06 năm 2013: Đại lễ Phật đản 2557, lễ chính thức với sự chứng minh của Hòa thượng Thích Nguyên Hạnh và chư Tăng Ni.

Chúng tôi kính gởi đến quý vị chương trình cụ thể của Đại lễ Phật đản 2557  năm nay, 2013 như sau:

Thu moi Phat Dan 2013

Chùa Việt Nam kính mời quý vị dành thời gian về chùa tham dự Đại lễ Phật đản này.

Nam mô Hoan Hỷ Tạng Bồ tát ma ha tát.

Chùa Việt Nam

« Older Entries