Tổng kết khóa tu học Sống chung hòa hợp năm 2012

Lời thưa:

Đây là một trong những tư liệu tu học đã được chúng tôi tổng hợp khi tham dự khóa tu học hằng năm tại chùa Tam Bảo, Louisiana.

Chúng tôi sẽ tiếp tục cập nhật những tư liệu như thế này để giúp mọi người phát tâm tu học dũng mãnh hơn.

Trong lần tu học này, chùa Việt Nam Boston có 5 người tham dự. Mong rằng năm nay, 2013, số lượng người phát tâm tham dự khóa tu sẽ nhiều hơn.

Bài tổng kết này là sự tổng hợp của riêng cá nhân chúng tôi. Nếu có gì sai lầm hay thiếu sót mong chư vị thiện hữu từ bi chỉ điểm.

 

TỔNG KẾT KHÓA TU HỌC “CHUNG SỐNG HÒA HỢP”

  1. Địa điểm: chùa Tam Bảo, Baton Rouge, Louisiana
  2. Thời gian: từ ngày 25 đến ngày 28 tháng 10 năm 2012
  3. Thành phần tham dự: hai chúng xuất gia và tại gia. Chủ tọa là hòa thượng Thích Nguyên Hạnh, thầy Đạo Quảng. Tăng thân tu viện Mộc Lan, một số thầy cô tại các đạo tràng tự viện cùng Phật tử đến từ những tiểu bang California, Pennsylvania, Massachusetts, Colorado, Florida, Missisippi, Virginia, Texas, Tennessee, Philadelphia, Oklahoma…
  4. Số lượng tham gia: Tăng Ni 38 vị, Cư sĩ nam nữ khoảng 150 vị
  5. Chủ đề thảo luận trong khóa tu:
  • Phụng sự Tam Bảo trong tinh thần lợi ích chung
  • Lắng nghe, nhìn lại và thay đổi
  • Trách nhiệm và giới hạn

Sau đây là những ý kiến nổi bật trong các chủ đề thảo luận.

  1. I. Đề tài “phụng sự tam bảo trong tinh thần lợi ích chung” do thầy Chánh Trí trình bày (xem dàn bài ở cuối bài)

– Phụng sự chúng sanh là cúng dường chư Phật. Tương thử thâm tâm phụng trần sát thị tắc danh vi báo Phật ân.

– Lợi ích chung: lợi ích cho số đông, cho quần sanh, theo chánh pháp.

– Việc gì đúng chánh pháp thì làm, hết sức mà làm. Việc gì không đúng chánh pháp thì quyết không làm, chết cũng không làm.

– Những ngôi chùa hiện nay có thực sự là nơi duy trì và truyền bá và thực tập chánh pháp không?

– Câu chuyện một Ni sư hỏi Phật tử khi họ cúng dường tiền: Tiền này có thanh tịnh không con?

– Một Sư cô nêu lên trăn trở, mong muốn các chùa lớn hỗ trợ các chùa nhỏ về tài chánh, xây dựng. Câu trả lời là chùa không của riêng ai, và chùa không hề có to và nhỏ. Chùa to vì đạo tâm Phật tử vùng đó mạnh mẽ. Chùa nhỏ bởi tâm tu tập của Phật tử vùng đó thấp.

– Kinh nghiệm của thầy Nguyên Hạnh: Phật tử cố chấp ý niệm chùa tôi, thầy tôi. Đó là đầu mối của mọi sự tranh chấp, đỗ vỡ. Do đó, quý thầy cô không nên chìu bất cứ ai, cái gì đúng pháp thì làm.

– Một số đạo tràng sinh hoạt còn cục bộ, cố chấp theo cổ truyền, cần phải chuyển hóa cho thích nghi với tâm sinh lý người trẻ.

– Một thực tế: Phật tử cần hộ trì Tăng bảo và chư Tăng ni cũng phải thương, hiểu và phục vụ cho Phật tử.

– Hai hình thái phụng sự: âm thầm, vô công, vô danh và dấn thân công khai, có tên có tuổi.

– Châm ngôn: nín – nén – nỗ. Tôi thêm: lỗ

– Các tư thế phụng sự: xuất gia, tại gia, già trẻ. Trong đó tăng ni giữ vai trò đầu tàu. Phật tử đang rơi vào khủng hoảng lãnh đạo.

– Ôn Nguyên Hạnh nói: Phật giáo không có ai lãnh đạo ai, chỉ có đồng đạo mà không có lãnh đạo.

– Chư Tăng ni cần giữ gìn tác phong của một người đại diện cho tập thể, chấp nhận sự phê phán, biết lắng nghe và nhìn lại chính mình.

– Một Phật tử nêu tâm trạng hoang mang vì tình hình nhiều chùa mọc lên. Lời khuyên là đạo tràng nào đúng chánh pháp thì hộ trì. Lưu ý: đừng bao giờ hy sinh cho chùa đến nỗi bỏ quên trách nhiệm và nghĩa vụ đối với gia đình.

– Phật, Pháp và Tăng đã phụng sự chúng ta từ muôn kiếp nào. Bầy giờ những gì cho Tam bảo chỉ là báo đáp ân nghĩa trong muôn một mà thôi.

– Tu, thực tập, quán chiếu nhiều hơn để phụng sự tốt hơn, đẹp hơn. Tất cả việc làm cho tam bảo phải đặt trên căn bản sự tu luyện của mỗi cá nhân.

– Thế giới vốn sai biệt và không ai có thể can thiệp vào nghiệp duyên riêng biệt của mỗi người. đừng mong ai cũng như mình.

– Hãy thực tập hạnh tùy hỷ, vui với sự phụng sự của người khác.

– Tâm bồ đề là tâm lớn nhất, quý nhất. Hãy nuôi dưỡng nó ngay trong mọi nghịch cảnh.

  1. II. Đề tài lắng nghe, nhìn lại và thay đổi do thầy Pháp Huy và sư cô Hỷ Nghiêm trình bày.

– Thầy Pháp Huy nói: chủ trương không soạn sẳn dàn bài thảo luận, chỉ chia sẽ những gì đi ra từ kinh nghiệm thực tập của mình. Thầy cũng nói khẩu nghiệp quan trọng nhất trong ba nghiệp để hỗ trợ cho đề tài của mình.

– Nghe mà không phán xét, không thành kiến, nghe với sự cảm thông và nghe từ nhiều phương diện của một vấn đề để hiểu trọn vẹn hơn.

– Theo thầy Chánh Trí, điều khó nghe nhất là: những điều không nói, tiếng tơ lòng của mình, những điều trái ngược với quan điểm của mình.

– Đối tượng phải nghe là: con người, người mình thương, người mình chưa thương, chú thỏ xinh xắn, nụ hoa đang hé nở. Đặc biệt là chính mình, tâm mình.

– Nhìn lại: quán chiếu những gì mình đã làm và sẽ làm từ thân khẩu và ý nghĩ.

– Phương châm thực tập: thở sâu trước khi nói để tự tin hơn và để người nghe dễ dàng hơn.

– Lắng nghe và nhìn lại là phương pháp tu, là cách thực tập cái miệng và lỗ tai – hai giác quan được sử dụng nhiều của con người.

– Thay đổi: chuyển hóa từ chưa tốt – tốt, nông cạn – sâu sắc, hẹp hòi – bao dung, thấp kém – cao sang, hận thù – tình thương, mê mờ – sáng suốt, giận dữ – yêu thương.

– Sư cô Hỷ Nghiêm nêu 3 yếu tố từ kinh thương yêu để hỗ trợ cho đề tài. Đó là thẳng thắn, khiêm tốn và nói lời ái ngữ.

– Nỗi khắc khoải của một người con nỗ lực hàn gắn tình cảm với người mẹ ở Việt Nam nhưng bị từ chối và chửi mắng. Một số giải pháp được đại chúng đưa ra để giúp cho cô ấy như: tạo cơ hội cho 2 mẹ con đối diện giải bày, biểu hiện sự chăm sóc từ những yếu tố nhỏ nhất để đi theo tiến trình tâm lý, tình cảm phải lớn dần theo thời gian.

– Ôn Nguyên Hạnh nhắc nhở: chúng ta chỉ “nghe” mà chưa biết “lắng nghe”. Nếu biết lắng nghe – nghe một cách thông minh, chúng ta sẽ gạn lọc được rất nhiều não phiền.

– Cái gì mình có mình hay chán. Nên trân quý những gì mình đang hưởng, đang có.

– Cô Thanh Giới chia sẽ kinh nghiệm chuyển hóa nội kết giữa mình và một người con nhờ áp dụng biện pháp làm mới, lắng nghe, và nhìn lại. Cô đã nhìn lại lỗi lầm của mình và tìm mọi cách để thay đổi sai lầm ấy. Cuối cùng đã chuyển hóa được người con và cả hai bây giờ rất hạnh phúc.

– Đổi cả thiên thu tiếng mẹ cười – mắc quá, một Phật tử đã dẫn chứng để cảnh giác sự yêu cầu quá đáng từ người khác, điều khiến mình và người khác đau khổ.

– Vì đòi hỏi quá đáng từ người khác mà nói mà không nghe, nhìn mà không thấy.

– Thầy Chơn Thiện: Hãy nghĩ mình đã làm gì cho người khác. Chớ đòi hỏi người khác đã làm gì cho mình. Câu này ý giống câu nói của một vị tổng thống Mỹ: anh đã làm gì cho quê hương trước khi yêu cầu quê hương đã làm gì cho anh.

– Quán chiếu điều tốt đẹp của người khác để nghe và nhìn trọn vẹn hơn.

– Nhìn lại cái gì khó nhất? Lỗi lầm của mình và nỗi khổ của người khác.

– Quá nhiều người khóc khi tâm sự liên quan đến cha mẹ. Thêm một người nêu lên nỗi niềm của người mẹ khổ đau, dù bị nhắc nhở đi ra ngoài đề tài thảo luận.

– Một số khúc mắc được giải tỏa giữa người thân và thầy đạo quảng – người trung thành với phong cách làm việc theo nguyên tắc.

– Chúng ta nên lắng nghe với tình thương và chấp nhận khuyết điểm.

– Ngôn ngữ có thuận và nghịch. Trong phần nghịch có 3 phần: sung đột, sung khắc và khác biệt. Khi nói chúng ta cố gắng làm sao để ngôn ngữ khác biệt không trwor thành đối kháng. Chiêu thức trung đạo được bác Kim Đoàn đưa ra.

– Thỉnh thoảng, thầy trò, cha con, vợ chồng uống trà với nhau. Nghe nhau nói những nỗi niềm sâu kín nhất để đổi thay.

– Quý thầy làm gì để Phật tử nữ, trẻ, đẹp dễ dàng đến hỏi han trò chuyện? Câu trả lời: đi lần 2 người, hỏi ở nơi sáng rõ.

– Vấn đề tình cảm cá nhân của thầy, cô trụ trì? Một phút lạc lòng dẫn đến lạc lối. Một cô Phật tử ủng hộ quan điểm: thầy, cô có quyền yêu, thương, hờn giận, vì họ là con người. Cô đã, đang và sẽ yêu quý thầy, cô theo cách riêng của mình.

– Thầy Chiếu Tăng nói tâm con ngươi hay nghi ngờ. Đó là tâm sâu bọ. Chính nó giết chết sự lắng nghe và nhìn lại trong trí tuệ.

– Thầy Pháp Huy nhấn mạnh: phương pháp tu tập lắng nghe và nhìn lại và gặp gở, chia sẽ ý kiến, tôn trọng ý kiến tập thể, họp nhiều hơn.

– Phương pháp hóa giải mọi khổ đau từ vấn đề nghe và nhìn: bắt đầu từ sự tu tập của mình. Đừng để tâm niệm tiêu cực phá hoại lợi ích chung. Tu nhiều thì chắc chắn nghe sâu hơn và nhìn xa hơn.

– Chư Tăng Ni lưu ý: đừng để bị kẹt vào bất cứ ai, chớ biến tình thương thành sợi dây trói buộc và nguyện không bao giờ nói xấu một ai để thực tập nghe nhìn trong sáng.

– Hãy tạo cơ hội để cảm thông nhau, thương yêu nhau hơn.

– Hơi thở thật lợi hại!

– Sống trên đời cao quý nhất tình thương.

– Sư cô Tịnh Thức phát biểu: người biết đặt câu hỏi thì phải biết trả lời câu hỏi đó. Sợ chính nỗi sợ của mình. Hạnh phúc lớn nhất của tôi là tự nguyện khép mình và chánh đạo.

– Nhìn lại để chấp nhận và đặt mình và vào vị trí của người khác để cảm thông và thấu hiểu nhau hơn.

– Lấy tâm chân thật mà nghe và nhìn.

– Càng nghe bao nhiêu càng hiểu mình hơn. Càng nhìn bao nhiêu càng thương người hơn. Đừng tưởng mình đã bất động trước sắc đẹp, tiền bạc, danh vọng, địa vị, phiền não. Chưa chắc! Cần tu tập, thực tập và quán chiều nhiều mới nghe nhìn trong sạch, chính xác, Ôn Nguyên Hạnh đã nhấn mạnh như thế.

– Bao nhiêu người con Phật phát tâm tu học mà thực sự đi tìm sự giác ngộ? Câu hỏi quá đau, quá lớn, quá căn bản.

  1. III. Đề tài thứ ba: trách nhiệm và giới hạn do thầy Tịnh Mãn thuyết trình

– Thầy mở đề bằng một ví dụ thực tế liên quan đến đề tài thật nhẹ nhàng và vui.

– Trách nhiệm: khi nào (đời này đời sau, hiện tại tương lai, quá khứ), ở đâu (tròn chùa, gia đình, xã hội), với ai (cá nhân, tập thể, cuộc sống, chính mình), cái gì (công việc, pháp lý), và như thế nào?

– Tâm lý sợ trách nhiệm nhưng thích quyền lợi.

– Làm sao cởi bỏ những khúc mắc khi thể hiện trách nhiệm?

– Trách nhiệm của tu sĩ là hướng hướng dẫn, chi dẫn các đạo tràng tu học. Trách nhiệm của cư sĩ là hộ trì tam bảo và tu tập.

– Làm sao chia sẽ trách nhiệm giữa tu sĩ và cư sĩ trong một ngôi chùa.

– Yếu tố nào giúp ta hoàn thành, làm tròn trách nhiệm được giao hay tự nguyện nhận trách nhiệm?

– Nhà bếp là ổ phiền não, là đầu mối của những thông tin thị phi.

– Các chùa cần nói rõ giới hạn và trách nhiệm các ban ngành để khỏi tắc trách, giẫm chân lên nhau, xung đột. Cụ thể hóa, minh bạch hóa tất cả trách nhiệm và giới hạn.

– Mất lòng trước, được lòng sau.

– Trách nhiệm và giới hạn trong Phật giáo đặt căn bản trên tinh thần: tự nguyện và tự giác. Chính điều này đã gây ra những mập mờ trong sự thể hiện và chịu trách nhiệm chung.

– Trách nhiệm đi đôi với quyền lợi. Quyền lợi của một người hộ trì tam bảo là gì?

– Thực tế tinh thần trách nhiệm sớm năng chiều mưa một khi có xung đột nho nhỏ. Một việc không vừa lòng thì thầy cũng bỏ, chùa cũng quăng.

– Tình trạng đau khổ của một vị trụ trì: năn nỉ Phật tử nhận trách nhiệm.

– Thể hiện trách nhiệm mà không đợi ai cảm ơn. Hãy cảm ơn người trao trách nhiệm cho mình phụng sự tam bảo.

– Phật tử nên can đảm, dũng cảm nhận trách nhiệm ngoại hộ, nội hộ trong tình hình Phật giáo đang bị chống phá trên nhiều phương diện.

– Tâm lý ưa nghe tin đồn xấu của Phật tử khiến chùa chiền dậy sóng.

– Hãy nói lên tiếng nói của sự thật.

– Hòa thượng Nguyên Hạnh kể câu chuyên giấc mộng của tôn giả A Nan về những con giòi và những người đi trên cầu. Phật tử hộ trì chân chánh là những người đi trên cầu. Chư Tăng Ni tu hành vô trách nhiệm và vượt giới hạn là các con giòi.

– Câu chuyện đau khổ của một Phật tử mất tiền, mất danh dự và ôm nỗi hận thù vĩ đại trong lòng do một tu sĩ lừa gạt khiến đại chúng tái tê tâm hồn.

– Chánh tín nhân quả để làm tròn trách nhiệm.

– Trăm dâu xin đỗ đầu tằm. Vị trụ trì hãy đứng ra nhận trách nhiệm của những hư hỏng sai lầm của những Phật tử trong chùa.

– Tâm lý hăng say nhiệt tình nhận trách nhiệm lúc đầu. Sau đó lạnh nhạt và ỷ công, đi quá giới hạn là có thật. Làm sao khắc phục tình trạng này?

– Một khi nhận trách nhiệm, xin cố gắng hoàn thành. Tôn trọng và giúp đỡ người khác hoàn thành trách nhiệm của họ.

– Khi thực hiện trách nhiệm nếu có va chạm, nên nghĩ về lợi ích chung.

– Trách nhiệm của mình hiện nay trong một ngôi chùa là gì và đã làm tròn chưa? Giới hạn của mình trong đạo tràng tu tập ở đâu và có bao giờ vượt qua chưa?

– Đến đây không hát thì hò, không lẽ như cò ngóng cổ mà nghe.

– Tăng tục có phần.

– Nhận ra cái không giới hạn để lo tu tập hơn.

– Tin tưởng vào sự thể hiện trách nhiệm của người khác.

– “Biết chìu hai vị này thì việc gì cũng xong”, câu nói bí mật đã được phơi bày của thực trạng chuyên quyền, độc tài, độc quyền, gia đình trị tại một số đạo tràng.

– Chư Tăng ni đừng bao giờ xin xỏ bất cứ ai một điều gì. Hãy tùy duyên làm Phật sự. đừng ràng buộc mình vào một ai, đôi khi bị chê là vô tình. Không bổn đạo. Chớ có ham danh lợi sắc đẹp vì họ sẽ dùng nó mà cột buộc mình.

– Tình hình cư sĩ kiểm soát tăng ni quá đáng là có thật: lục thùng rác, nghi nghờ, nghe lén điện thoại, email…

– Người làm tròn trách nhiệm có những nỗi niềm gì không?

– Nên hay không giới hạn thời gian trách nhiệm (nhiệm kỳ) các thành viên trong chùa, kể cả trụ trì?

– Những người nhận trách nhiệm phải là người tu tập gương mẫu.

– Hãy nghĩ đến đức Thế Tôn và bồ đề tâm để làm tròn trách nhiệm.

– Cư sĩ nên ý thức ngôi chùa là nơi tu học, đừng đem thị phi ngoài vào. Chớ đem lửa trong nhà ra ngoài đường. Chớ đem lửa ngoài đường vào đốt nhà mình.

  1. BUỔI TỔNG KẾT (ngày Chủ Nhật 28.10.2012)
  2. Thầy chủ tọa, Thích Đạo Quảng yêu cầu những đạo tràng tham dự cử một người đại diện phát biểu. Tất cả có 10 chùa, tu viện: chùa Hương Lâm, chùa Hương Nghiêm, chùa Việt Nam Houston, chùa Việt Nam Boston, chùa Chơn Nghiêm, chùa Tịnh Độ, chùa Tam Bảo, chùa Linh Quang, tu viện Mộc Lan, chùa Từ Vân.

– Đầu tiên là báo cáo tài chánh thu được trong khóa tu: khoảng hơn 8.000 usd.

  1. Đại diện chùa Việt Nam tại Boston phát biểu như sau:

– Ý thức tiên trách kỷ hậu cũng chẳng trách nhân để sống chung hòa hợp

– Dũng mãnh, nhiệt tình nhận trách nhiệm và hết lòng làm tròn trách nhiệm ấy trong tinh thần tự giác, tự nguyện và vô ngã, vì lợi ích chung.

– Luôn thấy rõ giới hạn của mình và tôn trọng trách nhiệm của người khác.

– Nỗ lực tu tập, thực tập, quán chiếu và chuyển hóa thân tâm: học giáo lý căn bản và nguyện thực tập những giáo lý ấy.

– Tuyệt đối tôn trọng và phụng sự, hộ trì Tam Bảo vì lợi ích chung của một ngôi chùa.

– Nguyện lắng nghe và nhìn lại mình nhiều hơn để nhận ra khuyết điểm của mình và ưu điểm của người khác.

– Cảm ơn đại chúng đã về tu tập, đặc biệt là chùa Tam Bảo, và hẹn năm sau tái ngộ.

  1. Một số ý kiến của các đại diện khác:

– Tôn trọng nội quy để sống chung hòa hợp (2 lần).

– Phá bỏ phân biệt vùng miền trong các đạo tràng.

– Ca ngợi sự kết hợp các pháp môn một cách nhịp nhàng, nhất là sự uyển chuyển không hề trở ngại của hai chữ Phật và Bụt của tứ chúng đồng tu.

– Đề nghị bổ sung và thành lập ban y tế, ban nhiếp ảnh, báo chí truyền thông.

– Khóa tu cần phát huy tinh thần phản biện, nhiệt tình phát biểu hơn.

– Thầy Đạo Quảng trưng cầu ý kiến đại chúng về đề tài khóa tu năm tới.

  1. V. Một số ý kiến và đề nghị cá nhân về khóa tu

– Có sự đổi mới hơn so với năm trước về chất lượng tụng niệm, thảo luận, thực tập và cách tổ chức, thiền trà. Đã học hỏi và thực tập rất nhiều điều bổ ích cho bản thân.

– Ngày càng nhiều Tăng Ni trẻ tham dự. Đặc biệt có thời gian dành riêng cho Tăng Ni ngồi lại tâm tình pháp lữ, trao đổi kinh nghiệm sống và tu ở Mỹ. Cần duy trì hoạt động này vào năm tới.

– Dù đã được giới hạn chủ đề thảo luận nhưng vẫn còn nhiều vị phát biểu ngoài đề tài.

– Ban ẩm thực chuẩn bị chu đáo, song nhiều bữa hơi mặn (hay do tôi tham ăn cũng không chừng).

– Tất cả Tăng Ni và Phật tử cần biết những khó khăn của Ban tổ chức (điều mà thầy Đạo Quảng cần chia sẽ) để hỗ trợ, cảm thông, thương yêu và hiểu nhau hơn.

– Trên trang web của chùa Tam Bảo cần cung cấp một số thông tin và hình ảnh về khóa tu.

– Rất cần tinh thần nhiệt tình đóng góp ý kiến, phát biểu, chia sẽ đến từ những người cư sĩ và các Tăng Ni trẻ.

– Yêu cầu mỗi đề tài cần in phần outline cho đại chúng để tiện việc theo dõi và tập trung vào đề tài. Mỗi vị được phân công điều khiển buổi pháp đàm phải soạn sẳn dàn bài.

– Đề tài đề nghị cho khóa tu năm tới:

1. Vấn đề nghi lễ và thuyết giảng trong một ngôi chùa.

2. Phương pháp khích lệ giới trẻ đến chùa.

3. Đối diện sự thật già, bịnh và chết.

 

 

 

ĐỀ TÀI: PHỤNG SỰ TAM BẢO TRONG TINH THẦN LỢI ÍCH CHUNG

(Tài liệu tu học tại Khóa tu Chung sống hòa hợp,

chùa Tam Bảo từ ngày 24 đến ngày 30 tháng 10 năm 2012)

Thể loại: chứng minh, lý luận và phân tích

Nội dung: tư duy và hành động đặt trên cơ bản lợi ích chân chánh của tập thể

Tư liệu: kinh văn Phật giáo và thế gian, thực tế cuộc sống tại các tự viện.

  1. I. ĐẶT VẤN ĐỀ
  2. Giải thích đề tài:
  3. Phục vụ: phụng sự, dâng hiến, hy sinh, làm mọi công việc bằng tâm lực, tài lực và vật lực. Đó cũng chính là tác Phật sự, làm việc Phật, như trong bài nguyện hương.
  4. Tam Bảo: đối tượng phải phục vụ. Phật bảo để noi gương, Pháp bảo để thực hành, Tăng bảo để thân cận học hỏi. Phải phục vụ Tam Bảo vì chỉ có Tam Bảo mới giúp chính mình và người khác thoát khổ được vui.

Có thể hiểu cụ thể hơn đó là phụng sự ngôi chùa, đạo tràng tự viện nơi mình đang tham gia tu học. Nó là một tập thể, một tổng thể, một tài sản chung, một môi trường chung, một sinh mệnh không phải của riêng ai, cá nhân nào.

  1. Tinh thần lợi ích chung: tinh thần phục vụ lấy lợi ích tập thể làm đầu tiên và quan trọng nhất. Đó là lý tưởng sống, là đời sống tinh thần, là ý hướng sinh hoạt chủ đạo khi sống chung trong một tập thể. Có thể kể ra tinh thần như: lục hòa, tứ nhiếp pháp, lục độ.
  2. Lợi ích chung: mục đích tu hành cá nhân và mục đích xây dựng một ngôi chùa, đạo tràng tự viện. Mục đích ấy chính là tứ hoằng thệ nguyện, là tam tự quy.
  3. Lý do đưa ra đề tài:

a) Căn cứ trên tinh thần phục vụ Tam bảo chưa đúng đắn và minh bạch tại một số đạo tràng tu học.

b) Khẳng định lại lợi ích thiết thực và mục đích chân chánh khi gầy dựng, duy trì và phát triển một ngôi Tam bảo.

c) Củng cố tinh thần phụng sự Tam bảo trong lợi ích chung của Tăng Ni Phật tử.

d) Làm lớn mạnh ngọn đèn chánh pháp tại mãnh đất Hoa Kỳ.

  1. Giới hạn đề tài: chỉ phân tích tinh thần phục vụ lợi ích chúng trong một ngôi chùa, tự viện, hay trong một gia đình. Không đủ thời gian và kiến thức cho sự mở rộng đề tài sang một vùng miền, hay toàn lãnh thổ Hoa Kỳ hoặc thế giới.
  2. Mục đích của đề tài:

a) Làm sống lại tinh thần phục vụ Tam bảo vô ngã vị tha của bao thế hệ tiền bối.

b) Nhấn mạnh sự đoàn kết và nhất thống trong tư tưởng và hành động tại các đạo tràng tự viện.

c) Hạn chế tối đa sự chệch hướng mục đích và lợi ích khi xây dựng và duy trì các ngôi chùa, tự viện.

d) Kêu gọi một tinh thần phụng sự ngôi nhà Phật giáo chung, tinh thần phục vụ trong sáng, tinh thần xây dựng vượt thoát lợi ích cá nhân ích kỷ.

  1. II. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
  2. Xác định đối tượng phục vụ là ai (ngôi chùa chung, chánh pháp và tăng chúng, chính mình) và lợi ích chung của một ngôi chùa là gì? (nơi tu tập trang nghiêm thanh tịnh, nơi duy trì đạo đức văn hóa dân tộc, chỗ ươm mầm chánh pháp cho người Mỹ)
  3. Phương pháp phục vụ trong tinh thần lợi ích chung: sáu điều hòa thuận của một tập thể (lục hòa); thực hành lục độ, hiểu và thương, nhìn lại và lắng nghe; ứng dụng 10 điều tâm niệm, áp dụng kinh bát đại nhân giác.
  4. Những chướng ngại khi phục vụ tập thể là gì? (quan niệm hữu ngã, ỷ công ỷ thế, khiêm tốn quá đáng, cố chấp thành kiến, ganh tỵ dèm pha, thiếu dũng mãnh, yếu chánh kiến…). Những thuận lợi khi phục vụ với tinh thần lợi ích chung là gì? (niềm vui lớn, tăng trưởng phước đức, mở rộng hiểu biết, lớn mạnh tình thương, nhiều bạn lành, thức và ngủ đều an lạc...)
  5. Tại sao phải phục vụ trong tinh thần lợi ích chung? Bảo đảm sự sinh hoạt ổn định, hòa hợp, đoàn kết và lớn mạnh. Hạn chế chia sẽ, bất ổn định…..
  6. Nhìn lại tinh thần đoàn kết, cảm thông và chia sẽ hướng đến lợi ích chung trong một ngôi chùa. (nỗ lực rất lớn, có bất mãn, nhiều khi chùn chân nản chí, lấy chín bỏ làm mười…….)
  7. Kinh nghiệm phục vụ với tinh thần lợi ích chung tại các tự viện đạo tràng tu học. (công khai tài chính, mục tiêu, công việc, động viên khích lệ, kiểm điểm nhìn nhận sai sót, vì lợi ích chung lớn mà hy sinh lợi ích riêng nhỏ….)
  8. Những nỗ lực của chúng ta trong việc phát triển lợi ích chung? (cố gắng hiểu và thương nhau hơn, góp tay chung sức xây dựng môi trường tu học ấm cúng, liên hệ trao đổi kinh nghiệm, mở rộng trái tim học hỏi văn hóa Mỹ….)
  9. KẾT THÚC VẤN ĐỀ
  10. Khẳng định tầm quan trọng của vấn đề phụng sự Tam bảo với tinh thần lợi ích chung.
  11. Phục vụ với tinh thần đoàn kết, hy sinh và trong sáng là cách thực tu tập thiết thực nhất và cũng là con đường rộng mở để hoàn thiện nhân cách, hoàn thiện phước đức và trí tuệ của người tu đạo.
  12. Mỗi đạo tràng tự viện tu tập có những mục đích sự sinh hoạt đặc trưng và phần nào dị biệt, nhưng tinh thần hóa khổ đau, xóa tan phiền não, đẩy lùi vô minh để xây dựng hạnh phúc, tạo dựng an vui và phát huy trí tuệ vẫn mãi mãi là lợi ích chân chánh và chính đáng cần phải có.
  13. Phật giáo muốn tồn tại và phát triển trong cái xã hội đề cao chủ nghĩa cá nhân và chủ nghĩa hưởng thụ như Hoa Kỳ này rất cần ba tinh thần: tinh thần cởi mở, tinh thần thiểu dục tri túc và tinh thần vô ngã vị tha, từ mỗi Phật tử chúng ta.

 

Thích Chánh Trí

 

Sau đây là một số hình ảnh của khóa tu
 

 

 

Sorry, no comments or trackbacks are allowed on this post.